Bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa

Đưa bài thơ của vua Lê Thánh Tông thành Bảo vật quốc gia

Chủ Nhật, 23/04/2017, 01:22 [GMT+7]
.
.

Đó là ý kiến của Hội đồng thẩm định chữ Hán Nôm bài thơ của vua Lê Thánh Tông khắc trên vách núi Bài Thơ do cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm đối chiếu. Tuy nhiên, để làm được điều này trước tiên phải tiến hành phục chế bài thơ cổ một cách khoa học.

Các văn nghệ sĩ dâng hương hoàng đế - thi sĩ Lê Thánh Tông tại di tích Bài thơ cổ dưới chân núi Truyền Đăng.
Các văn nghệ sĩ dâng hương hoàng đế - thi sĩ Lê Thánh Tông tại di tích Bài thơ cổ dưới chân núi Truyền Đăng.

Thực hiện chỉ đạo của Thường trực Tỉnh uỷ và UBND tỉnh, Hội VHNT Quảng Ninh đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Hán Nôm đối chiếu, phân tích thẩm định văn tự dựa trên thác bản văn bia lưu trữ tại Viện, bài thơ chép trong sách Toàn Việt thi lục, sách Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông do Mai Xuân Hải chủ biên và bản phục chế của Hội VHNT Quảng Ninh. Tuy nhiên, việc này rất khó khăn bởi bia đá tại thực địa do thời gian, mưa nắng và sự can thiệp bất lợi từ con người nay đã mờ mòn gần hết chữ, cản trở rất nhiều cho công tác dập bia, đọc chữ. Ngay cả thác bản lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng đã quá mờ, số chữ còn đọc được không nhiều. Từ những năm 90 của thế kỷ trước, Hội VHNT Quảng Ninh đã phát động cuộc tìm kiếm nguyên tác chuẩn xác bài thơ khắc trên vách núi.

Thạc sĩ Phạm Hoàng Giang, cán bộ Phòng Nghiên cứu Văn bản Nôm (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) là người trực tiếp đối chiếu đã đề nghị bổ sung trên bản hiện hành (bản phục chế của Hội VHNT tỉnh vào năm 2012 và bản trên tấm bình phong ở trước hồ bán nguyệt thuộc Khu Văn hoá Núi Bài Thơ, TP Hạ Long). Cụ thể, ông Giang đề nghị bổ sung thêm dòng lạc khoản và sửa đổi chữ triều có bộ thuỷ (潮) thành chữ triều không có bộ thủy (朝), đổi chữ khu (摳) thành chữ xu (樞).  Từ đó, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đề xuất: Cần tiến hành từng bước khôi phục lại bề mặt văn bia, dập lại bia một cách cẩn trọng nhất có thể. Những dấu vết còn lại trên vách núi là căn cứ để phục chế về kích cỡ bia, kích cỡ chữ, thể chữ và khoảng cách giữa các chữ. Việc phục chế phải đảm bảo hoa văn, kích cỡ chữ và bố cục toàn bộ văn bia như bản gốc.

Thêm nữa, theo cụ Vũ Anh Tuấn (phường Hồng Hà, TP Hạ Long), một người am hiểu Hán Nôm thì không chỉ phiên âm mà bản dịch nghĩa và dịch thơ cũng chưa chuẩn xác. Lý do là bởi từ xưa đến nay, bài thơ đã được chép nhiều trên sách báo văn bia nhưng tiếc rằng việc sao chép có nhiều chữ sai sót. Trong khi đó chữ Hán mà vua Lê Thánh Tông dùng có nhiều ý nghĩa hàm súc và có nhiều từ đồng âm, bài thơ lại đưa vào những nội dung về lý số, Kinh Dịch nên người đời sau có nhiều suy đoán hiểu và dịch mỗi người một cách. Theo cụ Vũ Anh Tuấn, tấm bia mà Viện Nghiên cứu Hán Nôm khắc vào năm 1993, ngay dưới chân bài thơ cổ đã sai đến 11 chữ. Và không thể để một bài thơ có giá trị như vậy lại bị sai lệch nhiều đến thế. Cụ Tuấn phản ánh: Không thể để du khách rồi thì văn nghệ sĩ, anh em yêu thơ ra vách núi thắp hương vái lạy một bài thơ không chuẩn xác.  

Trở lại với giá trị bài thơ cổ, hơn hẳn giá trị của một bài thơ thông thường, bài thơ trên vách đá Truyền Đăng của Vua Lê Thánh Tông là một tuyên ngôn về hoà bình và xây dựng đất nước. Bởi thế, núi Bài Thơ không chỉ nổi tiếng với hình dáng ngọn mác chĩa lên trời, huyền bí mà còn có giá trị hơn vì đã được vua Lê Thánh Tông đề thơ lên đá. Người đời sau còn đến đây làm thơ để hoạ lại, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và tôn vinh bài thơ. Bên cạnh bài thơ của vua Lê Thánh Tông, núi Bài Thơ còn dấu tích bài thơ của chúa Trịnh Cương, của Nguyễn Cẩn, quan Tuần phủ Quảng Yên và một số bài thơ khác của anh em quan án sát Vũ Tuân, Vũ Đại, bà Đào Thị Thoa, vợ quan Vũ Đại.

Ông Moon Kyoo Kim, chuyên gia du lịch Hàn Quốc, trong một lần đến đây đã từng đánh giá: “Núi Bài Thơ là một trong những giá trị điển hình về du lịch tại trung tâm đô thị Hạ Long nhưng chưa được khai thác, phát huy”.

Nhận thức được những giá trị đó, Hội đồng thẩm định của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã đề xuất: Đây là bài thơ của một vị vua nổi tiếng được khắc trên vách núi trông ra biển lớn, nhiều vương triều phong kiến quan tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc, gắn liền với những sự kiện lịch sử của dân tộc nên có thể coi là di sản quý báu của Quảng Ninh. Bởi vậy, sau khi phục chế được, cần có lộ trình đưa bài thơ cổ này thành Bảo vật quốc gia.

Huỳnh Đăng

.
.
.
.
.
.
.
.