"Tiếp quản Vùng mỏ đã đưa chúng ta sang một thời kỳ mới, thời kỳ của thống nhất và dựng xây"

Thứ Bảy, 25/04/2020, 13:00 [GMT+7]
.
.

Sự kiện ta tiếp quản Vùng mỏ (25/4/1955) là một dấu mốc quan trọng trong chặng đường lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Với cụ Nguyễn Ngọc Đàm (sinh năm 1922), nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh - lúc đó là Phó Ban Quân quản vào tiếp quản thị xã Hòn Gai, 65 đã qua nhưng ký ức về những ngày tháng tư lịch sử với cụ vẫn chưa phai mờ.

Cụ Nguyễn Ngọc Đàm.
Cụ Nguyễn Ngọc Đàm.

Nhân kỷ niệm 65 năm Ngày tiếp quản Vùng mỏ (25/4/1955-25/4/2020), phóng viên Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh đã có cuộc trò chuyện với cụ Nguyễn Ngọc Đàm, nghe cụ kể lại những ngày tháng tư lịch sử đó.

- Thưa cụ, là người tham gia chỉ huy cuộc tiếp quản Vùng mỏ, cụ có thể cho biết tình hình Vùng mỏ trước ngày tiếp quản như thế nào?

+ Năm 1954 hoà bình lập lại, khu mỏ Hồng Gai nằm trong phạm vi khu tập kết 300 ngày do Hiệp nghị Giơ-ne-vơ quy định. Lúc này, tôi là quyền Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Đặc khu Hồng Gai.

Do thắng lợi của ta, chủ mỏ Pháp biết rằng sớm muộn chúng sẽ phải rút đi nên âm mưu của chúng là trong thời gian quân đội Pháp còn tập kết sẽ di chuyển máy móc, thiết bị, phá hoại khu mỏ để gây cho ta khó khăn sau này khi về tiếp quản. Chúng cho chuyển một số máy móc mà đế quốc Mỹ mới viện trợ cho chúng đi Nam gồm máy khoan, máy xúc, xe tải cỡ lớn. Thấy việc làm phi pháp của chủ mỏ, anh chị em công nhân mỏ Cẩm Phả do được giáo dục, phổ biến tinh thần của Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, đã đấu tranh rất mạnh, buộc chúng không thể nào thực hiện được mưu đồ phá hoại và di chuyển máy móc. Tình hình lúc đó rất căng. Sau đó bọn chủ mỏ phải xin phép Chính phủ ta cho chúng chuyển đi và xin được gặp đại biểu của ta để thương lượng vì số máy móc, thiết bị đó vừa đưa sang, chưa được sử dụng, chưa thành tài sản của mỏ.

Cụ Nguyễn Ngọc Đàm (người đứng đội mũ cán) trên chiếc xe về tiếp quản TX Hòn Gai)
Cụ Nguyễn Ngọc Đàm (người đứng, đeo kính, đội mũ cối) trên ô tô về tiếp quản TX Hòn Gai ngày 25/4/1955. Ảnh: tư liệu của nhân vật cung cấp.

- Lúc đó, lãnh đạo đặc khu nhận được chỉ đạo kịp thời, sát sao của Trung ương?

+ Cuộc đấu tranh giữ máy của anh, chị em công nhân mỏ Cẩm Phả được Đặc khu uỷ báo cáo lên Trung ương Đảng và Chính phủ. Ít ngày sau, Đặc khu uỷ Hồng Gai nhận được bức điện của Văn phòng Trung ương Đảng, bảo tôi lên Hà Nội báo cáo trực tiếp với Bác Hồ. Nhận điện lên báo cáo với Bác, lòng tôi tràn ngập một niềm vui sướng khó tả. Công lao này, vinh dự này thuộc về anh chị em công nhân mỏ đã kiên quyết đấu tranh chống địch. Tôi được Bác gọi về Trung ương báo cáo trách nhiệm, phấn khởi cứ lẫn lộn trong tôi từ khi nhận điện, chuẩn bị tài liệu và cả quá trình từ căn cứ của Đặc khu lên Hà Nội.

Đầu xuân năm 1955, năm đó rét, tôi từ căn cứ đạp xe ra đi. Từng đợt gió của núi rừng Đông Bắc như quất vào mặt, làm tê cóng tay chân nhưng trong lòng thật là ấm áp, một sự ấm áp bởi tình thương và sự quan tâm của Đảng, của Bác. Trong quá trình công tác, được cấp trên giáo dục, bồi dưỡng, ý thức trong tôi về lãnh tụ đã hình thành một cách hoàn chỉnh, bản thân cũng có những trưởng thành nhất định. Tôi hiểu rằng Bác và Trung ương gọi lên báo cáo, không phải chỉ vì mấy cái máy của bọn chủ mỏ. Tôi cũng mang máng thấy được tầm quan trọng của vấn đề quan hệ giữa ta và Pháp sau này cho nên Bác mới cho gọi và cũng thấy lo lắng.

Vào khoảng hơn 5 giờ chiều, tôi đến Phủ Chủ tịch. Lúc đó cũng chẳng có giấy giới thiệu như bây giờ, mà tôi chỉ đưa bức điện của văn phòng Trung ương cho đồng chí bảo vệ. Thế là tôi được vào. Đồng chí bảo vệ đưa tôi đi qua Phủ Chủ tịch, đến gần một ngôi nhà nhỏ thì tôi đã trông thấy Bác ngồi trên chiếc ghế dài dưới gốc một cây cổ thụ, có cả đồng chí Phạm Văn Đồng. Lòng tôi hồi hộp. Tôi đi đến nơi Bác. Tôi cố gắng bình tĩnh để chào Bác và đồng chí Phạm Văn Đồng. Đồng chí Phạm Văn Đồng bắt tay tôi giới thiệu với Bác. Bác bảo báo cáo luôn tình hình dưới mỏ.

Nghe tôi báo cáo xong, Bác khen ngợi tinh thần đấu tranh của anh chị em công nhân mỏ và cho một số chỉ thị. Bác nói, đại ý rằng: Phải bảo vệ tất cả tài sản của mỏ, không để cho địch mang đi, để đến khi ta về tiếp thu có thể sản xuất được ngay. Thái độ đối với Pháp cần mềm dẻo, có tranh thủ, nhưng không nhân nhượng. Những thứ chủ mỏ xin chuyển đi, Chính phủ sẽ có chỉ thị sau nhưng không được để cho chúng phá hoại ta. Phải đề cao cảnh giác. Phải bảo vệ ngay cả đội ngũ công nhân, không cho chúng cưỡng ép anh chị em đi vào Nam.

Nói xong, Bác hỏi tôi, chú còn ý kiến gì nữa! Tôi thưa: Xin thi hành chỉ thị của Bác. Bác bảo, thôi về nghỉ.

Đấy là lần đầu tiên được ngồi bên Bác, báo cáo với Bác và nghe Người chỉ thị. Thời gian chỉ khoảng một tiếng đồng hồ, nhưng sao nó nhanh thế. Tôi chào Bác và đồng chí Phạm Văn Đồng rồi về trong lòng rất phấn khởi vì đã hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời lại được Bác chỉ thị trực tiếp những việc cần làm sau này.

- Và chỉ thị của Bác đã được thực hiện ra sao vào thời điểm đó, thưa cụ?

+ Về căn cứ Đặc khu Hồng Gai, tôi triệu tập hội nghị Đặc khu uỷ phổ biến chỉ thị của Bác và đồng chí Phạm Văn Đồng. Chính phủ ta đồng ý cho chủ mỏ Pháp được chuyển những máy móc thiết bị họ xin, còn các thứ khác ta phải bảo vệ bằng được.

Chỉ thị của Bác được phổ biến đến tận cơ sở. Phong trào đấu tranh lại được dấy lên mạnh mẽ hơn, sôi nổi, lan rộng đến các tầng lớp nhân dân lao động, vừa chống địch phá hoại, vừa chống địch cưỡng ép di cư. Nhờ đó, khi chính quyền ta vào tiếp quản, ta chỉ phải sửa lại một số máy móc, như trục nguội ở Cẩm Phả và công việc sản xuất than lại tiếp tục sau tiếp quản. Anh chị em công nhân khu mỏ Hồng Gai, Cẩm Phả lại một lần nữa đáp trả bọn thực dân chủ mỏ Pháp từng nói láo rằng: "ít ra cũng phải 20, đến 25 năm nữa người An Nam mới đào được than!". Kết quả to lớn đó chính là có Bác chỉ đường.

- Không khí của những ngày tiếp quản Hòn Gai hẳn rất sôi động...

+ Khí thế hừng hực, vui tươi sôi nổi lắm. Mà không hiểu sao thời tiết dịp đó nóng lắm, nóng đến mức lúc nào trước cửa phòng tôi (ở ban quân quản đóng tại Đông Triều) cũng phải có chậu nước để rửa mặt cho hạ nhiệt. Hôm đó cậu báo vụ vào báo tin cho tôi vừa đến cửa phòng thì cậu ta vục cả đầu vào chậu nước. Hỏi sao thì cậu ta bảo nóng không thể chịu nổi (cười).

Rồi chúng tôi lên một chiếc xe rất cũ có từ thời Nga hoàng để từ Đông Triều về sân vận động Hòn Gai dự mít tinh.

Sáng ngày 25/4/1955, quân dân thị xã Hòn Gai và khu Hồng Quảng tổ chức mít tinh trọng thể để chào mừng ngày giải phóng hoàn toàn khu mỏ, ra mắt Ủy ban Quân chính Hồng Quảng và đọc thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi quân dân Hồng Quảng và nhận lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bà con nhân dân ai cũng hồ hởi, cờ hoa và biểu ngữ khắp nơi. Xe của tôi vừa tiến vào đến cổng thì có một cụ bô lão tiến lại tặng hoa cho tôi. Phía sau cụ là một hàng các bô lão áo the khăn xếp chỉnh tề đứng chào đón xe của chúng tôi và bộ đội về dự lễ mít tinh. Những hình ảnh đó đến giờ tôi vẫn còn nhớ mãi.

Cụ Nguễn Ngọc Đàm ôn lại quá trình hoạt động cách mạng.
Cụ Nguyễn Ngọc Đàm và Đại tá Nguyễn Cảnh Loan, nguyên Trưởng phòng Tổng hợp, Ty Công an Quảng Ninh cùng ôn lại những kỷ niệm về ngày tiếp quản.

- Khi tiếp quản Vùng mỏ, chúng ta phải đối diện với những công việc cấp bách nào cần phải giải quyết, thưa cụ?

+ Đúng là như thế. Sau tiếp quản Vùng mỏ, nhiệm vụ quan trọng là khôi phục các cơ sở hầm mỏ, nhà máy của Pháp mà chúng ta vừa thu hồi. Đảng ta lãnh đạo tập trung giải quyết hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề do thực dân Pháp gây nên, đặc biệt là nạn đói và nạn thất nghiệp rất nghiêm trọng. Tình hình lương thực tự sản xuất trong tỉnh chỉ đủ cung cấp khoảng 1/3 còn lại 2/3 là phải đi mua ở tỉnh ngoài. Chúng ta lại còn phải đối phó với âm mưu phá hoại trước sự tiếp tay của các thế lực bên ngoài với bọn phản động trong nước được cài cắm lại.

Là người đứng đầu chính quyền ở khu mỏ, tôi đã tập trung lãnh đạo khôi phục sản xuất than và hoạt động của các nhà máy cơ khí để phục vụ cho việc sửa chữa máy móc, ô tô vận chuyển, máy xúc, máy gạt, xe goòng cho khai thác than. Nhờ đó việc sản xuất than từng bước được khôi phục hoạt động, nhất là ở khu vực Cẩm Phả.

Cùng với đó, chúng ta còn phải khắc phục hậu quả sai lầm của cải cách ruộng đất trước đó để lại. Chủ trương của ta là chủ động khai hoang phục hóa ruộng đất, làm thủy lợi, thu mua lâm thổ sản, vừa giải quyết việc chống nạn đói vừa có tích lũy để phục vụ lực lượng vũ trang.

Có thể nói, với chính quyền non trẻ sau chiến tranh có nhiều việc phải làm, việc gì cũng cần kíp như việc khôi phục lại học tập cho con em và xóa mù chữ, tổ chức các phong trào bình dân học vụ chẳng hạn. Song song với việc học tập, chúng ta cần vận động bà con tích cực tham gia vào các tổ đổi công sản xuất nông nghiệp để sau này trở thành mô hình hợp tác xã.

- Kết quả của những việc làm đó đạt được như thế nào, thưa cụ?

+ Từ những giải pháp như vậy, chúng ta đã đưa sản xuất bước đầu đạt được kết quả tốt, đẩy lùi được nạn đói, hoạt động của các xí nghiệp hầm mỏ đã ổn định nhanh chóng tạo nên sự tin tưởng lạc quan của cán bộ, công nhân và nhân dân. Những sự việc, sự kiện diễn ra ở thời kỳ đó là vô cùng sôi nổi, phong phú tôi không thể nói hết ra được hoặc nhớ hết được. Tuy nhiên, có một điều tôi không thể nào quên là tinh thần lao động hăng hái không quản khó khăn gian khổ của công nhân, nông dân. Từ trong ánh mắt mỗi người đều toát ra niềm tin tưởng. Từ những việc làm và cả khúc hát ca trong sản xuất, sau mỗi ngày lao động của họ đều nói lên sự tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo. Với ý thức tự giác cách mạng rất cao, họ là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của chính quyền và đó cũng là biểu hiện của truyền thống kỷ luật và đồng tâm của người Vùng mỏ.

Cụ Nguyễn Ngọc Đàm (bí danh Lê Vân) được trao huân chương Độc lập hạng
Huân chương Độc lập hạng Nhất do Chủ tịch nước tặng cụ Nguyễn Ngọc Đàm do đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

- Với bản thân cụ, ngày tiếp quản Vùng mỏ có ý nghĩa như thế nào?

+ Tôi có được may mắn là đã có mặt ngay từ những ngày đầu tiếp quản cùng với giai cấp công nhân và nhân dân lao động khôi phục Vùng mỏ sau khi giải phóng. Bao nhiêu khó khăn gian khổ đã giúp tôi hoàn thành được nhiệm vụ. Tôi cũng là người may mắn được gặp và báo cáo trực tiếp với Bác Hồ và được nghe Người căn dặn về tổ chức cho công nhân và nhân dân Vùng mỏ trong những ngày đầu đầy khó khăn nhưng rất tự hào. Tôi đã sống những ngày ở Vùng mỏ sôi sục phong trào cách mạng, bất khuất kiên trung. Kể từ đó, hầm mỏ, nhà máy, xí nghiệp, ruộng vườn, đồi núi, sông biển đã do nhân dân ta làm chủ để bước vào thời kỳ mới, đấu tranh thống nhất nước nhà và dựng xây đất nước.

- Xin trân trọng cảm ơn cụ đã chia sẻ câu chuyện! Chúc cụ mạnh khỏe, sống lâu để tiếp tục có những đóng góp cho quê hương!

Phạm Học (Thực hiện)

Tin liên quan

 

.
.
.
.
.
.
.
.