"Không có gì cản được sự lãnh đạo toàn diện, xuyên suốt của Đảng..."

Chủ Nhật, 02/02/2020, 06:47 [GMT+7]
.
.

Không sinh ra và cũng không lớn lên ở Quảng Ninh, lại công tác trong lực lượng công an nhưng ông dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về lịch sử Quảng Ninh. Chúng tôi muốn nói tới ông Nguyễn Cảnh Loan, sinh năm 1937, hiện ở tổ 7, khu 7, phường Hồng Hà, TP Hạ Long. Ông là Đại tá, nguyên Trưởng Phòng Tổng hợp, Công an Quảng Ninh và hiện là Chánh văn phòng Hội Khoa học Lịch sử Quảng Ninh.

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện cùng ông về quá trình nghiên cứu cũng như một số vấn đề lịch sử, trong đó có lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh.

Ông Nguyễn Cảnh Loan.
Ông Nguyễn Cảnh Loan.

Ông nói: Từ khi có Đảng, từ khi thành lập Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đến nay thì diện mạo của tỉnh rất khác.

Trong lịch sử hình thành Quảng Ninh từ thời vua Hùng đến khi có Đảng năm 1930, ở vùng đất này đã có 13 cuộc khởi nghĩa nông dân, đều có người đứng đầu nhưng do đường lối chính trị không chuẩn nên đều không thành. Mở đầu là của bố Lê Chân, rồi cậu của Lê Chân, tới Lê Chân đứng dưới cờ của Hai Bà Trưng... nhưng đều bị đàn áp.

Trong khi đó, lực lượng do Đảng thành lập với Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên ở Quảng Ninh ra đời vào năm 1930 tại Mạo Khê (Đông Triều), 6 năm sau diễn ra cuộc tổng đình công năm 1936, đã kích động, lôi cuốn được phong trào đấu tranh của công nhân lao động với hàng vạn thợ mỏ.

Cuộc tổng đình công này đã góp phần tạo điều kiện cho cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 tại Quảng Ninh thành công, mở đường cho những thắng lợi sau này.

Cả nước lúc đó có khoảng 5.000 đảng viên, riêng ở Quảng Ninh chưa rõ cụ thể nhưng đã lần lượt giành được chính quyền từ nơi này tới nơi khác, trong vòng 3 tháng. Tất nhiên, cũng có nơi gặp khó khăn, giành chính quyền sau như Móng Cái, Hà Cối, Đầm Hà…

- Được biết, ông là đồng tác giả trong những công trình nghiên cứu có tính lịch sử về Quảng Ninh như Địa chí Quảng Ninh (năm 2003), cũng đã xuất bản cuốn Lịch sử Quảng Yên thời Nguyễn năm 2014 và hiện đang biên soạn cuốn Địa danh Quảng Ninh. Vậy ông nghiên cứu về lịch sử Quảng Ninh từ bao giờ và dựa vào những nguồn tài liệu nào?

+ Tôi sinh ra, lớn lên ở Hà Tĩnh và vốn không phải người làm lịch sử. 16 tuổi, tôi rời gia đình đi tham gia kháng chiến chống Pháp, 2 năm sau, khi vùng mỏ giải phóng, tôi về đây từ đó cho đến nay.

Nhớ lúc nhỏ được bố giao chép lại gia phả dòng họ, tôi bắt đầu có ý thức và say mê về nghiên cứu lịch sử. Sau này, ai gửi cho tôi một chữ, một câu tôi đều giữ cho đến giờ. Về Quảng Ninh, tôi nghiên cứu về vùng đất này từ năm 1956, khi đang là cán bộ công an khu Hồng Quảng.

Tôi có khoảng 4 năm được phân công viết lịch sử lực lượng Công an Quảng Ninh, cho nên cộng tác rất chặt chẽ với ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh. Tôi còn là giáo viên kiêm nhiệm nữa cho nên có được nhiều nguồn tài liệu người ta cung cấp, từ các Nghị quyết, sách lịch sử của Đảng và tự tôi đi mua sách tham khảo về đọc…

Trong đó, có những tập sách tôi không đồng tình, tôi phản biện lại, kiến nghị thu hồi nhưng cũng có những cái giúp tôi hiểu thêm sự trưởng thành của Đảng bộ từ không đến có, từ nhỏ đến lớn. Xin nói thêm, sở dĩ tôi có thể phản biện vì tôi được tham gia tổng kết nhiều tổ chức địch ngụy trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Quảng Ninh.

Tôi biết được ở đâu, nó là cái gì? Cũng có nhiều nhân vật, tôi cộng tác lại với họ để làm, cùng với họ để khai thác những tư liệu cũ. Ví dụ như ông Trịnh Tam Tỉnh, Chủ tịch đầu tiên của Đặc khu Hòn Gai năm 1945, 1946.

Hay như Vương Văn, kẻ đã phản bội, đầu hàng khai báo với mật thám để bắt các đảng viên đảng cộng sản, trong đó có đồng chí Vũ Văn Hiếu, Bí thư đầu tiên của Đặc khu ủy Hòn Gai vào năm 1930. Rất ít người gặp được Vương Văn sau hòa bình, năm 1968, tôi cùng với một cán bộ của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã đến Hải Phòng gặp, tìm hiểu được vì sao anh ta lại phản bội…

- Vậy có vấn đề gì qua nghiên cứu đã được làm rõ hơn không, thưa ông?

+ Tôi xin đơn cử một việc thôi. Trong Cách mạng Tháng Tám, chỉ có duy nhất TX Hòn Gai xảy ra một việc “độc nhất vô nhị”, đó là chọn cờ chứ không dùng lực lượng vũ trang áp đảo để giành chính quyền. Khi ấy, ở TX Hòn Gai có lực lượng của Việt Minh và lực lượng Việt Quốc, Việt Cách là tay sai của quân Tưởng đóng ở trong Cái Đá.

Để giành chính quyền ở TX Hòn Gai năm 1945, hai lực lượng đã thỏa thuận với nhau tổ chức chọn cờ, cờ 3 que của Việt Quốc, Việt Cách và cờ đỏ sao vàng của Việt Minh. Tại sân vận động Hòn Gai, chào cờ của Việt Quốc, Việt Cách trước và hát quốc ca của Pháp, cả TX Hòn Gai chỉ có 3 người Pháp ở dãy phố liền kề đó mở cửa sổ ra ngó, còn không ai hưởng ứng, không hát, không vỗ tay hò reo gì cả.

Xong, đến cờ đỏ sao vàng và Tiến quân ca của Việt Minh, thì cả tập thể hát vang. Cuối cùng, bọn Việt Quốc, Việt Cách chấp nhận Việt Minh thắng, chúng rút về Cái Đá, giao chính quyền về Việt Minh.

Giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Hòn Gai. (Tranh sơn dầu của họa sĩ Nguyễn Hoàng, trưng bày tại Bảo tàng Quảng Ninh)
Giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Hòn Gai. (Tranh sơn dầu của họa sĩ Nguyễn Hoàng, trưng bày tại Bảo tàng Quảng Ninh).

Chỉ có ở Hòn Gai mới có cách làm như thế, không có một tỉnh nào, địa phương nào trong cả nước có cách giành chính quyền bằng chọn cờ cả. Đấy là một cái công, sự lãnh đạo của Đảng trong giành chính quyền. Tuy nhiên, có một việc cho đến giờ vẫn chưa trả lời được.

Đó là cuộc tổng đình công năm 1936, vai trò lãnh đạo của Đảng ra sao, ai là người đề xướng? Làm thế nào để những người công nhân mỏ ở các nhánh, khu vực khác nhau đồng lòng đứng lên cùng một ngày? Có ý kiến cho rằng, những người tù cộng sản sau khi chính phủ Bình dân của Pháp được thành lập thì tù chính trị được tha, một số đã ra vùng Mỏ lãnh đạo cuộc tổng đình công(?)

Trong lịch sử Đảng có nhiều thành tựu nhưng cũng có những dấu hỏi lăn tăn, rất khó trả lời. Ví như vai trò của công đoàn với các lực lượng khác ở mỏ Hà Tu trong cuộc vây ráp của địch bắt một số cán bộ công đoàn của mỏ Hà Tu năm 1952? Vai trò của Hội Nông dân, của chi bộ Đảng xã Hùng Thắng trong cuộc vây ráp của địch bắt một số người ở đây năm 1951?

Hay như vụ việc ở hang 73 tại Yên Đức… rất đau xót chứ, vì đây đều không phải là những sự kiện lớn nhưng lại là sinh mạng con người. Những câu hỏi về vai trò lãnh đạo của Đảng khi ấy đến bây giờ vẫn còn chưa rõ, còn bị lu mờ.

Không có gì cản được sự lãnh đạo toàn diện, xuyên suốt của Đảng, nếu không, chúng ta không làm được gì cả.

- Ông hiện còn nghiên cứu, dự định có thêm những công trình mới nào về lịch sử Quảng Ninh không?

+ Những tư liệu đã tích lũy được, tôi tiếp tục viết sâu hơn. Bản thảo cuốn Lịch sử dân tộc Quảng Ninh từ thời Hùng Vương cho đến năm 1930 đã cơ bản xong, tôi viết khá chi tiết các sự kiện. Tôi cũng dự định viết về người công giáo ở Hiệp Hòa, mà khi làm Địa chí Quảng Ninh, tôi tìm hiểu và phát hiện rất nhiều điều thú vị.

Đó là, người theo đạo Công giáo ở khắp nơi khi chết thì “đào sâu chôn chặt”, nhưng riêng ở đây thì 3 năm cải táng, giống người không theo đạo. Hai là, ở bất cứ gia đình ở Hiệp Hòa cũng có hai bàn thờ, bàn thờ tổ tiên và bàn thờ chúa. Thứ ba, Hiệp Hòa gần như là con số không về ma túy.

Trong lịch sử, Hiệp Hòa là xã duy nhất ở Quảng Yên được vua Tự Đức tặng 2 biểu ngạch, trong đó biểu 4 chữ “Nghĩa dân khả kháng” thì duy nhất Hiệp Hòa có, biểu 2 chữ “Nghĩa dân” thì 10 xã có. Quảng Yên là tỉnh lỵ giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám đầu tiên của cả nước, vào ngày 20/7/1945 nhưng trước đó, lực lượng tập kết ở xã Hiệp Hòa.

Xã Hiệp Hòa còn là nơi sinh hoạt của Chi bộ Nhà máy kẽm Quảng Yên, mặc dù Nhà máy không nằm trên địa bàn xã. Sau này, Hiệp Hòa cũng là xã đầu tiên của tỉnh khai trương được trang web…

Tôi nhớ năm 1955, có người phụ nữ tên Hồng bị chính quyền ta xử lý, do linh mục trong nhà thờ xứ kích động. Bà mẹ chị này nói: Con tôi sống vì Đảng, con tôi chết cũng vì Đảng. Khi tôi đi viết về xã Hiệp Hòa, có vào nhà thờ tìm hiểu, khi đi ra gặp một người phụ nữ khoảng 50 tuổi. Bà nói một câu ráo hoảnh: Đấy là nhà thờ của Tây chứ đâu phải nhà thờ của ta mà bàn…

Ở Hiệp Hòa còn có một ông tên là Lý Bầm, đi tứ phủ, bát huyện ở đâu cũng đặt vè, rồi về nhà đọc cho con gái nghe. Có một ông hàng xóm nghe đọc vè thì bí mật chép. Năm 1967, ông Lý Bầm chết thì ông hàng xóm mang tập vè sang thắp hương. Trong đó có bài về cuộc tổng đình công năm 1936, có bài về linh mục Tây cướp đất, ức hiếp trẻ con…

Nói thế để thấy cái ý thức, ý chí của người công giáo ở Hiệp Hòa khác với hiểu biết của ta về công giáo toàn tòng. Tôi đi 4 làng để viết cho Địa chí Quảng Ninh, làng mỏ có cái lý thú của làng mỏ, Húc Động là xã tập trung đồng bào dân tộc thiểu số có cái hay của Húc Động, xã thuần nông Yên Đức cũng thế nhưng tôi say sưa nhất là Hiệp Hòa, từ đó thúc giục tôi phải tìm hiểu thêm đạo công giáo ở Quảng Ninh.

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

Phan Hằng (Thực hiện)

.
.
.
.
.
.
.
.