Kỹ sư, dịch giả Đỗ Thái Bình:

"Buồm mành là một đặc sản của Hạ Long huyền bí…"

Thứ Tư, 29/01/2020, 09:01 [GMT+7]
.
.

Nhiều nhà hàng hải thế giới nghiên cứu thuyền buồm Đông Dương, khi xem các tài liệu cổ đã ngạc nhiên phát hiện từ hàng nghìn năm trước, người Đông Á đã chinh phục đến các vùng biển châu Phi, Nam Mỹ bằng những con thuyền buồm cánh dơi (buồm mành). Để trắc nghiệm, năm 1994, nhà hàng hải thế giới người Mỹ Tim Severin đã đóng một chiếc bè tre, dùng buồm cánh dơi Hạ Long để vượt 5.500 dặm đại dương từ Hồng Kông (Trung Quốc) sang California (Mỹ).

Kỹ sư, dịch giả Đỗ Thái Bình (sinh 1941) đã dành cả đời nghiên cứu thuyền buồm truyền thống, ông là dịch giả của nhiều cuốn sách về thuyền buồm Đông Dương. Nhiều năm về Quảng Ninh, ông vẫn tự đặt ra câu hỏi: Vì sao thuyền buồm cánh dơi có sức sống trường tồn và mãnh liệt đến vậy? Nhân dịp xuân Canh Tý, ông đã trả lời phỏng vấn của phóng viên Nguyễn Văn Học, Tạp chí Công nghiệp tàu thuỷ. Bài dành riêng cho báo Quảng Ninh.

Kĩ sư Đỗ Thái Bình (bên trái) đang trao đổi với nhà hàng hải Tim Severin tại đền Độc Cước (Thanh Hóa) vào tháng 10 năm 2018. Ảnh: Nguyễn Văn Học
Kỹ sư Đỗ Thái Bình (bên trái) trao đổi với nhà hàng hải Tim Severin tại đền Độc Cước (Thanh Hóa), tháng 10/2018.

Mở đầu câu chuyện, kỹ sư, dịch giả Đỗ Thái Bình chia sẻ: Như tôi đã nói trong lời nói đầu của cuốn Tim Severin “Bè tre Việt Nam du kí, 5.500 dặm vượt Thái Bình Dương”, trước khi tới Việt Nam, Tim Severin đã khảo sát miền Nam Trung Quốc và Đài Loan nhằm tìm kiếm một nơi còn sử dụng và có thể chế tạo được mảng tre và buồm. Theo sử sách của Trung Quốc, sinh thời, vua Tần Thủy Hoàng (259-210 TCN) đã phái nhiều đoàn người đi tìm thuốc trường sinh bất tử. Ngoài đi đường bộ, còn có đoàn vượt biển hướng về phía Đông. Từ sự kiện này đã tạo ý tưởng cho Tim Severin thực hiện chuyến đi bằng mảng tre vượt đại dương. Nhưng thực ra, do hạn hẹp về nguồn thông tin nên Tim Severin không biết rằng, mảng tre cùng với buồm cánh dơi và xiếm là những sản phẩm độc đáo của dân tộc Việt mà nhiều nhà khoa học nước ngoài đã dày công nghiên cứu.

- Dù con thuyền có thể bằng nhiều vật liệu khác nhau như tre, gỗ, nhưng cánh buồm vẫn giả thiết duy nhất là buồm cánh dơi. Phải chăng, buồm cánh dơi là phát minh của dân tộc Việt vùng Bắc Bộ?

+ Trước hết, về tên gọi, bà con mình vẫn gọi là buồm cánh dơi, nhưng tổng quan hơn, nên gọi là buồm mành, bởi vì ngoài buồm cánh dơi rồi còn có buồm cánh kẹo. Gọi là buồm mành là vì nó giống như cái mành mành, xếp lại được. Đây là sáng kiến của các nước  vùng Viễn Đông, bao gồm Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản. Vì buồm có lúc cần giương đủ, có lúc cần thu bớt lại khi gió to. Buồm phương Tây thu gọn bằng cách cuộn dần. Việc gọi tên buồm mành là rất quan trọng, vì nhiều nhà nghiên cứu thuyền buồm trên thế giới lại gọi buồm này là buồm Trung Quốc. Đó là một điều bất công.

Có một thực tế, khu vực biển Viễn Đông bao gồm phía Nam Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và khu vực Đông Nam Á, đều sử dụng buồm mành này, nhưng buồm mành của mỗi một nước có biến điệu khác nhau, biến điệu rất nhiều mang tính chất bản địa. Điều chú ý là buồm mành này trong triển lãm hàng hải ở Thượng Hải (Trung Quốc) hay các bảo tàng của Trung Quốc thường không có, như vậy chứng tỏ là ở góc độ quốc gia, Trung Quốc đánh giá cái này chiếm một góc độ rất bé trong các loại buồm. Còn buồm mành của Việt Nam thì rõ ràng.

Khi đánh chữ Hạ Long bằng tất cả các thứ tiếng Pháp, Anh… đều xuất hiện buồm mành - buồm cánh dơi hết. Cho nên có thể nói đây là một đặc sản đáng quý của vùng Đông Bắc nước ta, của vùng Hạ Long huyền bí. Đấy là về nguồn gốc.

Nghệ nhân đóng thuyền truyền thống của thị xã Quảng Yên - ông Lê Đức Chắn bên mô hình thuyền cánh dơi Hạ Long.
Ông Lê Đức Chắn, nghệ nhân đóng thuyền truyền thống của TX Quảng Yên, bên mô hình thuyền cánh dơi Hạ Long.

- Buồm mành Hạ Long có nét độc đáo như thế nào, thưa ông?

+ Bây giờ, nếu có ý định may buồm, ta hãy về Phong Cốc (Hà Nam, Quảng Yên), hỏi những phụ nữ: Các bà có may buồm không, thì các bà trả lời ngay: "May thế nào, dài rộng bao nhiêu?", thì tức là các bà đã nhẩm tính được kích cỡ của buồm, chứng tỏ tri thức dân gian vẫn còn.

Theo tri thức khoa học thì trong các phương pháp khoa học về buồm, người ta tính ra rằng, diện tích buồm là hàm số của chiều dài và chiều rộng hoặc là lượng mớn nước của thuyền. Khoa học hiện đại còn tính phức tạp hơn nữa. Ngư dân không có bảng tính, nhưng người dân Phong Cốc vẫn nhẩm ra được diện tích buồm bao nhiêu, chứng tỏ tri thức dân gian là rất lớn và quý.

Quanh đình Phong Cốc nói riêng, vùng Quảng Yên nói chung, cánh buồm mành đã trở thành đặc sản của ngư dân. Như thời hiện đại, một con tàu có vỏ tàu, thân tàu và máy tàu. Trong quá khứ, thì cánh buồm chính là máy của con thuyền, cực kỳ quan trọng. Cánh buồm quyết định con thuyền có đi được tốt hay không, thứ hai nữa, nó tạo hình dáng đẹp cho con thuyền. Trong thơ ca cũng thường hay nói “buồm ai thấp thoáng” chứ có ai nói thân thuyền đâu. Cho nên buồm có vai trò quyết định đối với con thuyền.

Buồm mành Hạ Long qua tư liệu của Pháp chụp  trước 1954. Nguồn: Viện Viễn đông Bác Cổ.
Buồm mành Hạ Long qua tư liệu của Pháp chụp trước 1954. (Nguồn: Viện Viễn đông Bác Cổ)

- Để bảo tồn nghề làm buồm cũng như đóng thuyền buồm Hạ Long, theo ông thì cần như thế nào?

+ Khi chiếc bè tre của Tim Severin vượt Thái Bình Dương, người ta đề cao những ngư dân Thanh Hóa làm bè, chứ chưa đề cao người may buồm (ở Quảng Yên). Mặc dù Quảng Ninh đã chú ý truyền thông, nhưng vẫn chưa được đề cao. Cả làng Phong Cốc có nhiều người làm buồm giỏi, nhưng ông Phạm Văn Chính được Tim Severin chọn làm buồm. Mặc dù ông Chính chưa phải là người làm buồm xuất sắc nhất, nhưng theo tôi, nên làm biển ghi ở cổng nhà ông Chính: Đây là nơi đã làm chiếc buồm cho nhà hàng hải Tim Severin và đồng đội vượt Thái Bình Dương năm 1993. Đây là một vinh dự không riêng đối với gia đình ông Chính, mà còn là đối với những người làm buồm ở Quảng Yên. Vì có ý nghĩa nâng tầm nghề làm buồm ở Quảng Yên.

Việc nữa, cần có công tác nghiên cứu. Trước đây, TX Quảng Yên đã có những nghiên cứu ban đầu về thuyền buồm, bây giờ cần tiếp tục nghiên cứu sâu vào nghề buồm, gồm: Thứ nhất, trí tuệ dân gian về may buồm. Hiện chưa có ai tổng kết. Ngư dân đã nhẩm tính bằng cách nào để có được diện tích của buồm, cần ghi chép, tổng kết thành công thức. Thứ hai: Quy trình công nghệ làm buồm, tức là  những cây sú, cây vẹt, củ nâu để làm buồm, làm bằng cách nào, như thế nào để giữ màu cho buồm.

Kinh nghiệm dùng buồm của bà con Hạ Long rất tốt. Theo lý thuyết khoa học, trên cánh buồm có điểm gọi là tâm chịu gió, ở dưới là nước có điểm gọi là tâm cản ngang. Ngư dân đã có nghệ thuật lớn là dùng thanh xiếm kết hợp buồm để điều chỉnh tâm cản ngang ở đáy, lúc cần thì rút lên, lúc xuống thì hạ xuống. Mục đích để làm gì? Nói theo diễn tả khoa học là để cho tâm chịu gió luôn luôn đặt trước tâm cản ngang một chút. Đó chính là trí thức của ngư dân Hạ Long đã ước lượng được.

- Chúng ta nên làm gì để phát triển buồm mành Hạ Long trong thời điểm hiện nay?

+ Buồm là một di sản đặc thù của vùng Đông Bắc Việt Nam. Trên thế giới hiện nay, Hồng Kông là nơi được nhắc đến và gắn với buồm mành chứ không phải Việt Nam. Biểu tượng của Hồng Kông là thuyền buồm mành. Hồng Kông quảng cáo có thể may buồm mành cho toàn thế giới. Tại sao chúng ta không làm được việc đó?

Theo ý tôi, chúng ta cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu. Sau khi đã nghiên cứu, tổng kết thì đưa các buồm mành lắp trên những con tàu hiện đại. Đầu tiên có thể mở một cuộc đua thuyền dùng buồm mành. Đồng thời thế giới có nhiều người quan tâm buồm mành. Khi con thuyền buồm mành của ông Lê Đức Chắn ở Quảng Yên đóng trước đây hoàn thiện, đã có nhiều người ở Mỹ gửi thư cho chúng tôi xin bản vẽ con thuyền này, chủ yếu là làm cái buồm giống hệt như thế bên Mỹ, chứng tỏ người ta rất quan tâm. Từ những cuộc đua thuyền buồm mành, chúng ta tiến tới xây dựng cả đội thuyền du lịch, thuyền chơi và thuyền mành dành cho nghiên cứu, bảo tàng.

- Xin cảm ơn ông về cuộc phỏng vấn!

Nguyễn Văn Học (Thực hiện)

.
.
.
.
.
.
.
.