Những câu chuyện ở nơi thôn dã

Chủ Nhật, 17/03/2019, 08:04 [GMT+7]
.
.

Tiểu thuyết “Người của Phật” của nhà văn Dương Phượng Toại, do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành lại thêm một dấu mốc cuộc đời làm văn chương của một nhà văn cả đời gắn với bờ tre, gốc rạ. Đây là cuốn sách thứ 11 in riêng của ông, khi tác giả đã bước vào tuổi "xưa nay hiếm".

Trang bìa tập sách.
Trang bìa tập sách.


Tôi đã mê mải đọc hết gần 400 trang sách ông viết trong “Người của Phật" do Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành. Theo cách lý giải của ông thì ông đặt tên thế chứ nếu là tôi tên cuốn sách không cần phải “nghiêm trọng” như thế mà vẫn ra ngôi làng mênh mang sông nước, núi đồi, biển cả, trăng sáng bên những cánh đồng trơ gốc rạ sau mỗi mùa gặt đẹp nao lòng hay bình minh bên chân sóng của người làng chuyên nghề đánh cá. Là những câu chuyện hoang đường mà ở nơi đâu ta cũng bắt gặp trong làng quê Việt, nó nhuốm màu ma quái của một nhóm người luôn nảy sinh bên cạnh cái tốt và cái xấu. Nhưng đọc văn của ông, lại thấy hồn quê bảng lảng hiện ra, đủ những hỉ nộ ái ố, đó mới là một bức tranh xã hội thu nhỏ ở nơi thôn dã mà ông gắn bó. Ví như có con ma ở chợ cá ngày nào cũng xõa tóc đứng chắn đường để cho người làng đi chợ cá kinh hồn bạt vía mà bỏ cả gánh cá chạy. Nhờ có trí thông minh của ông Lý trưởng trẻ là Lý Tấn đã làm bại lộ cơ mưu của người đàn bà gian manh đó, để không bị “con ma” cướp cá các đêm đi chợ. Và, dân làng vừa giận vừa thương, cùng hành vi cứ ở truồng đứng xí “nong” tát nước là một trong những nỗi niềm xa xót của kẻ khó kiếm ăn ở cái thời thật sự còn mông muội ấy. Và vô vàn những câu chuyện quê trong cộng đồng làng ấy dở khóc, dở cười.

Hay cái cách dân làng cấm quan quân về làng cưỡi ngựa nghễu nghện vào làng, buộc phải “hạ mã” khi qua cổng làng là cái lệ bất di, bất dịch của thời phong kiến ấy, biết tên quan người làng hống hách, không chấp hành “hạ mã”, người làng vốn thông minh nhưng cũng vô cùng quyết liệt là đem roi, gậy ra đánh vào bóng ngựa, bóng người trên đường làng, nhằm mục đích để răn đe tên quan kia!

Người viết làm tôi hết sức ngạc nhiên về những “ký ức lệ làng” chưa mờ này còn hiện diện trên những trang văn của ông để lại những bài học đắt giá về tôn ti trật tự ở làng ngàn đời vẫn không bao giờ tan mà nó chỉ tụ lại, để trở thành những tấm bia khắc dấu vào tâm hồn những con dân của làng, luôn biết trọng kẻ tử tế và sẵn sàng chống lại sự khốn nạn áp bức nào đó mà khi họ vấp phải. Nhưng bằng trí thông minh của mình, họ khôn khéo để cho những kẻ khốn đó những bài học đích đáng, tránh những tai bay, vạ gió không đáng có. Lý Tấn là hiện thân của loại người được tôn vinh, trọng vọng thời phong kiến đó, vì loại người như Lý Tấn chỉ là hiện thân của cái ác, của tầng lớp áp bức, còn ông lại là hiện thân của kẻ có đức, có học, biết làm người tử tế, nên dân làng rất tôn vinh anh ta. Chính cách “trị dân” bằng tâm đức đó mà Lý Tấn đã luôn chiến thắng mọi mưu hèn, kế bẩn của kẻ đồng cấp hay đám lâu la xấu xa trong làng trong tổng, chỉ mang lại cái lợi cho dân. Và cho đến khi không còn vai trò chức cao, vọng trọng của thời phong kiến thì Lý Tấn vẫn giữ được kẻ có cốt cách nho gia để tiếp tục cuộc sống với gia phong nhà mình mà mẹ ông đã răn dạy ông từ tấm bé. Ta hãy nghe một đoạn nhà văn tả về nhân vật Lý Tấn ở cuối đời: “… Xuất thân từ nền nếp gia phong với bản năng cố hữu làm ăn, nên khi lỗi thời ông Lý Tấn vẫn không thể nguôi quên việc nông gia. Cho đến lúc tuổi bảy mươi ông vẫn thức khua dậy sớm… Sinh ra ở đời chẳng ai tránh khỏi giông bão. Có điều ta phải biết vượt qua giông bão mới biết mình…”.

Theo tôi, nhà văn Dương Phượng Toại đã rất dày công để xây dựng cốt cách Lý Tấn, để minh chứng cho một luân lý mà ông luôn tâm niệm “đức năng thắng số”. Nhưng vì ông có quá nhiều tư liệu, quá ôm mộng lớn xây dựng thành công nhân vật Lý Tấn với tất cả niềm tôn kính chân thành nhất, thì ông lại ôm đồm quá nhiều chi tiết đắt để xây dựng nhân vật nên đôi khi nhân vật đã bị che đi vì bộn bề chi tiết đó.

Với văn phong khá chỉn chu, nhiều chuyện ứng xử chữ nghĩa, việc làng, việc họ, lễ tiết trong làng, trong tổng của thời phong kiến ông tường tận và cung cấp cho bạn đọc những câu chuyện hay, chi tiết hay. Thế nhưng, tôi thực sự thấy tiếc, vì ông đã không tiết chế được cảm xúc và như đã nói ở trên, vì quá ôm đồm nên nhân vật Lý Tấn ông xây dựng thực sự đã không lớn như ông tham vọng. Tuy nhiên bù lại, người đọc đã được chiêm ngưỡng bức tranh làng quê qua văn ông thật đẹp, trong trẻo qua những con người thuần phác nhưng nghĩa hiệp, là cái sự làm người tử tế phải có căn cốt mới làm được, đó là tôn sư trọng đạo, đó là ở hiền gặp lành. Tôi thích những trang văn của ông kỹ lưỡng về lễ hội ở làng, cách làm các món ăn từ sản vật ở địa phương, là cách răn dạy con cháu của các bậc cha mẹ quần thâm, áo vá nhưng vô cùng cao siêu và đắc địa.

Qua nhân vật Lý Tấn, ông muốn gửi gắm hết tinh thần răn dạy theo cách đó, ngoài cách học chữ ở trường, học ăn nói, lý lẽ ở ngoài đời để làm người tử tế. Và cuộc đời ông Lý Tấn khép lại, theo tôi khá hoàn hảo, đến cả đám ma của ông cũng “to nhất vùng”, con cái, cháu chắt đề huề, đó là cái phúc của đời một con người, như ông từng chỉ mong muốn: “…Cuộc đời cuối cùng ai cũng phải về với đất, ra cánh đồng nằm sương dãi gió dưới cỏ. Cỏ là cái chăn muôn thuở đắp cho người…”. Chỉ là những mong ước nhỏ nhoi như thế, nhưng vô cùng thấm thía nghĩa nhân ở nơi thôn dã ấy. Và thông điệp của nhà văn ở cuốn tiểu thuyết “Người của Phật” là một thông điệp nhân văn.

Vũ Thảo Ngọc (CTV)

.
.
.
.
.
.
.
.