Những biến thể độc đáo của ca trù ở Quảng Ninh

Thứ Bảy, 07/07/2018, 13:15 [GMT+7]
.
.

Ca trù có sự phát sinh và lan rộng thành một vệt từ vùng ven biển Thanh Nghệ đến tận Móng Cái, Quảng Ninh. Điều đó hình thành một không gian tồn tại rộng lớn của ca trù và những biến thể của nó. So sánh các biến thể của ca trù sẽ thấy được tính độc đáo và sức sống của loại hình diễn xướng dân gian này.

Nghệ nhân Ưu tú Phạm Văn Lận (xã Vạn Ninh, TP Móng Cái), 1 trong2 người còn chơi được đàn đáy ở Quảng Ninh, đã qua đời ở tuổi 108.
Nghệ nhân Ưu tú Phạm Văn Lận (xã Vạn Ninh, TP Móng Cái), một trong 2 nghệ nhân đàn đáy ở Quảng Ninh, đã qua đời năm 2017, ở tuổi 108.

Trao đổi với chúng tôi, nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình, nguyên giảng viên bộ môn Hán Nôm, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, cho biết: Ông đã về làng Đồng Xâm (thuộc xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, Thái Bình) để tìm lại những bài hát chầu thánh. Đây là ngôi làng cổ xưa giáp biển, nay cách biển chừng 20km. Ở đền làng Đồng Xâm còn cuốn sách cổ bằng chữ Hán lẫn chữ Nôm chép những bài dùng để tế thần, người địa phương vẫn gọi là hát chầu thánh hay chầu cử. Sách ghi chép các bài văn tế, văn khấn, còn có bài ca trù Tam nguyên Yên Ðổ khóc Dương Khuê, 8 bài ca trù tế thánh và 1 bài ca trù tế tổ nghề ca công. Mỗi bài 16 câu cùng chung một khuôn mẫu, một quy cách. Trong đó có nội dung cầu chúc xóm làng yên ấm, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu... Nội dung này không khác gì những bài hát nhà tơ, hát cửa đình ở Quảng Ninh.

Đối chiếu với những bài hát nhà tơ, hát cửa đình ở Quảng Ninh hiện nay, nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh cho rằng chúng đều là những "mảnh vỡ" của ca trù mà ra, chỉ khác nhau ở tên gọi. Ở các làng Việt xưa, ca trù (hay ả đào, cô đầu) tồn tại các giáo phường. Những người phụ nữ đi hát thì gọi là ca nương (đào nương). Các giáo phường có các quy chế riêng về sự truyền nghề, cách học đàn, hát, cũng như những phong tục về cách nhận đào nương. Khi phụ nữ mặc áo đào nương để biểu diễn chính thức lần đầu tiên tại cửa đình gọi là hát cửa đình, giống như cách gọi của Quảng Ninh. Ca nương vừa hát vừa gõ phách còn người đàn ông chơi đàn đáy gọi là kép, còn có một người đánh trống chầu để tán thưởng những câu hát hay. Lối hát này xuất phát từ ca trù nên kỹ thuật hát của ca nương cũng không kém công phu.

Nghệ nhân Ưu tú Đặng Thị Tự (xã Đầm Hà, huyện Đầm Hà) cùng đội hát tập luyện.
Nghệ nhân Ưu tú Đặng Thị Tự (xã Đầm Hà, huyện Đầm Hà) cùng đội hát tập luyện hát nhà tơ.

Quá trình khai ấp, lập làng ở những vùng ven biển là điều kiện cho văn hóa, văn nghệ dân gian được giao thoa, tiếp biến, là điều kiện để ca trù phát triển. Sự khác nhau về tên gọi của ca trù ở các địa phương có lẽ do ảnh hưởng của văn hóa biển. Ông Đoàn Văn Hựu, CLB Ca trù Thăng Long, một người quê Quảng Ninh, khẳng định: Có nhiều tư liệu cho rằng bà hàng nước ở bến đò Rừng năm xưa thực ra là một ca nương. Còn quê gốc của bà ở đâu thì hiện tại chưa rõ.

Có một chi tiết đáng quan tâm ở văn chỉ làng Khê Chanh (phường Quảng Yên, TX Quảng Yên) bây giờ, gia phả họ Phạm ghi rõ nguồn gốc là người Thanh Hóa. Như vậy, có một bộ phận cư dân Quảng Yên từ nơi khác đến lập đất, lập làng, trong đó có người của vùng Thanh Nghệ, nơi ca trù rất phát triển. Trong đó, quê gốc của cụ Đinh Dự, ông tổ ca trù Việt Nam, ở động Hoa Lư, huyện An Khánh, phủ Trường Yên, đạo Thanh Hóa.

Ở vùng Thái Bình và Hải Dương xưa cũng tồn tại ca trù. Dấu ấn rõ nét nhất của hát chầu thánh trên đất Thái Bình hiện vẫn còn lưu giữ tại đền Đồng Xâm như vừa kể. Ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, có Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Phú Đẹ, “cây” đàn đáy hiếm hoi còn sót lại của những giáo phường hát cửa đình năm xưa.

Trong khi đó ở Quảng Ninh, hát ca trù ở trong dinh quan thì gọi là hát nhà tơ (nhà ty); hát đi kèm với vũ đạo ở đình làng thì gọi là hát - múa cửa đình tồn tại ở các làng biển và ven biển ra đến tận Móng Cái. Thậm chí không gian tồn tại của loại hình diễn xướng này còn kéo dài sang tận 3 làng người Việt là Giang Bình, Vạn Vỹ, Sơn Tâm (Phòng Thành, Quảng Tây, Trung Quốc). Tại Móng Cái còn không ít câu hát lưu truyền đến ngày nay khẳng định người Vạn Ninh, Trà Cổ, Vĩnh Thực, Vĩnh Trung vốn gốc gác từ những ngư dân Đồ Sơn (Hải Phòng) đi đánh cá ra đây lập làng. 

Màn hát múa thể hiện nghi thức cầu ngư.
Màn hát múa thể hiện nghi thức cầu ngư của các nghệ nhân xã Quảng Nghĩa, TP Móng Cái.

Dù tên gọi có là ả đào, cô đầu, nhà tơ hay hát cửa đình như ở Quảng Ninh thì cũng là từ ca trù mà ra. Ca trù không đi kèm múa và ca nương phải ngồi hát. Theo ông Nguyễn Quang Vinh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Quảng Ninh, điểm đặc sắc của loại hình diễn xướng dân gian này ở Quảng Ninh ngoài chỗ có vũ đạo thì còn cởi mở, phóng khoáng hơn khi cho phép ca nương được đứng hát. Đáng mừng là ca trù của Việt Nam đã được UNESCO vinh danh là Di sản thế giới, được đưa vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. Ở trong nước, hát nhà tơ, hát - múa cửa đình của Quảng Ninh cũng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Huỳnh Đăng

.
.
.
.
.
.
.
.