Có một "Miền thao thức" trong thơ Trần Thưởng

Thứ Bảy, 07/04/2018, 08:02 [GMT+7]
.
.

Tập thơ "Miền thao thức" của Trần Thưởng do NXB Hội Nhà văn ấn hành và nộp lưu chiểu quý 1/2018, gồm 94 bài thơ. Đây là tập thơ đầu tay của ông nhưng đã đánh dấu sự chững chạc trong ngòi bút.

Trang bìa tập thơ.
Trang bìa tập thơ.

Trần Thưởng sinh ra và lớn lên ở vùng quê đồng trũng Lý Nhân (Hà Nam), định cư ở phường Hà Tu (TP Hạ Long), hiện là Chủ nhiệm CLB Thơ Hà Tu.

Trong tập thơ "Miền thao thức", Trần Thưởng sử dụng 3 thể loại thơ: Đường luật có 9 bài, thơ tự do có 5 bài và nhiều nhất là thơ lục bát với 78 bài, chiếm 83% tổng số thơ trong tập. Những bài thơ lục bát của anh đều mang  tâm trạng nhớ quê, một vùng quê nghèo khó bao đời. Mảng đề tài quê hương, bạn cũ, trường xưa có 11 bài và vẫn thấp thoáng dòng sông thương nhớ, bóng dáng mẹ yêu qua những “à ơi” của bà mẹ Việt Nam muôn thuở.

Mảnh đất Quảng Ninh mà anh coi là quê hương thứ hai và nơi đã từng gắn bó mấy chục năm để “Hòn than đơm hoa kết trái” cũng được tác giả trải lòng qua 7 bài thơ. Với 8 bài thơ khác, Trần Thưởng nhớ về thuở trai trẻ “Hành quân vượt suối băng rừng” và những nỗi đau sau cuộc chiến.

Bài thơ "Tiếng vọng" có một nét nhìn nhân văn hơn về cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam (1954 - 1975) và thân phận những người lính của cả hai phía: “Họng súng từ hai phía/ Hai trận tuyến đối đầu”. Trong xu thế thời đại và hòa hợp dân tộc, đâu đó những bà mẹ Việt Nam vẫn đang thắp những nén nhang thờ hai đứa con trai xé ruột đẻ ra, một thời từ hai phía chĩa mũi súng vào nhau. Hương thơm vẫn chia đều cho 2 thằng bé của mẹ: “Rồi đi đâu về đâu/ Chiến chinh dài dằng dặc/ Chết đi bao khoảng lặng/ Tuổi xuân bụi phủ màu”. Bài "Nỗi đau" là bài thơ hay, chìm ý, ta phải đọc đi đọc lại mới hiểu tác giả chuyển tới người đọc thông điệp về nỗi đau giằng xé trong bao gia đình những người lính, những cô gái thanh niên xung phong, nỗi đau mang màu da cam: "Không con mà cũng chẳng chồng/ Sống trong cô quạnh… tay không cả đời".

Nỗi đau của người mẹ ngóng chờ con cho dù cuộc chiến đã lùi xa vào dĩ vãng hơn bốn chục năm cũng là nỗi đau của cả dân tộc: “Con xa xa mãi không về/ Đèn khuya hiu hắt tái tê thắt lòng/ Da diết nhớ, lặng thầm mong/ Ầu ơ nước mắt lưng tròng lời ru”. Những trang viết về mẹ, về quê hương thời xa lắc của tuổi thơ chiếm một phần không nhỏ trong tập thơ này. Dù chỉ có thế này thôi: “Ơi dòng sông tuổi thơ tôi/ Nhập nhòa trong tiếng ru vời vợi ru…".

Bài thơ "Thì thầm lời quê" là một trong số nhiều bài thơ hay trong tập và 4 câu này là một trong số ít những câu thơ để người đọc nhớ đến Trần Thưởng. Một tập thơ đầu tay mà có một khổ thơ hay là đáng khen, đáng nể lắm thay! Người làm thơ cần lắm một giọng điệu riêng của mình để không lẫn vào biển cả mênh mang thơ phú: “Quê ơi! Vẫn của ngày xưa/ Vẫn chang chang nắng vẫn thừa bão giông/ Thương quê, thương đến nao lòng/ Dãi khoai dãi sắn long đong phận nghèo”.

Nhắc tới "Miền thao thức", sẽ là không công bằng nếu như không nhắc tới những bài thơ Trần Thưởng viết về mỏ và nghề mỏ, những người làm mỏ. Đối với tôi, anh và những cựu thợ mỏ thì nghề mỏ là phần cuộc đời gian truân, vất vả nhưng cũng chính là phần đời đẹp nhất.

Sau khi rời quân ngũ, những ngày làm mỏ cũng là những kỷ niệm để đời cho Trần Thưởng và làm nên diện mạo thơ trong "Miền thao thức": “Pha sương điểm bạc mái đầu/ Vẫn còn vương vấn sắc màu bụi than”. Nghề làm mỏ vất vả, tưởng đâu khô khan nhưng có lẽ sẽ ngỡ ngàng với những ai không làm mỏ khi đọc hai câu thơ: “Than reo trong ánh mắt cười/ Mơ màng ngỡ tiếng sao rơi gương tầng”. Nếu không là người thợ lò thì không thể viết được hai câu hay đến thế. Nó mang nét đặc trưng của người thợ làm than trên tầng mỏ lộ thiên riêng có: “Than reo”, “sao rơi”.

Trong số những bài thơ viết về mỏ trong "Miền thao thức", tôi thích và đánh giá cao cái sâu sắc có phần thâm trầm nhuốm màu triết lý của bài thơ thất ngôn bát cú Mầm than trong lòng đất. Tên bài thơ cũng gợi bao ý tưởng cho những tác giả khác nếu muốn về với than, vào lòng than và viết về than để yêu đến tận cùng tình yêu than. Thơ Trần Thưởng có những khúc đam mê nhưng cũng có khúc tỉnh, khúc thức giữa tâm thế đời sống thường nhật. Điều đó có vẻ mâu thuẫn với sự đắm đuối, mê hoặc của thơ nhưng đó cũng có lẽ là sự cần thiết cho lý trí mượn ngôn ngữ thơ để bộc lộ tư tưởng chăng?

Trần Thưởng đã đi đến sự thao thức tận cùng với "Miền thao thức" của anh. Thăng trầm của đời người, của thế hệ, của những miền đất anh đã sống và đi qua đã miết vào trang thơ, phết thành những gam màu sáng tối của "Miền thao thức". Ngọn gió, dòng sông, hạt thóc, mầm than và tiếng ầu ơ của mẹ đã để lại dấu ấn riêng một Trần Thưởng, một giọng điệu mới trong làng thơ Quảng Ninh. Chúc ông sẽ đi đến tận cùng của miền đam mê, "Miền thao thức" để dần dà định hình một cây bút vững tay trong lòng bạn đọc.

Nguyễn Đình Thái (CTV)

 

 

 

 

 

 

.
.
.
.
.
.
.
.