Đỗ Đăng Hành và những trang viết về chiến tranh

Chủ Nhật, 04/02/2018, 14:01 [GMT+7]
.
.

Tác giả Đỗ Đăng Hành từng là người lính trải qua những phút giây đối diện với bom rơi đạn nổ. Những vốn sống dày dặn trong chiến tranh đã giúp ông cho ra đời 2 tập tiểu thuyết trong ba năm gần đây.

Tập truyện “Khát vọng” nói về bối cảnh vùng đất Quảng Trị, nơi đạn bom ác liệt, nơi “cơm Bắc giặc Nam”. Cái tỉnh có rẻo đất bề ngang chật hẹp, đã từ lâu nổi tiếng bởi tính khốc liệt, từ thời “Bình Trị Thiên khói lửa”. Tiểu thuyết đề cập đến tính phức tạp về thân phận con người trong cuộc chiến. Tính chính danh và Việt gian đan cài trong mỗi cá nhân bởi bối cảnh gia đình. Sự giải quyết tình huống đôi khi vượt quá sức chịu đựng của người trong cuộc. Những trưởng thành vượt bực trong trận chiến và lòng hướng thiện bởi tình đồng đội của quân giải phóng.

Trang bìa cuốn tiểu thuyết.
Trang bìa cuốn tiểu thuyết.

Mới 18 tuổi, chiến sĩ Vũ Thành Đá được giao nhiệm vụ éo le muốn để sống hay giết chết, tùy ý, cấp trên không truy cứu trách nhiệm. Đối tượng bị “xử lý” là cô gái tên Phương, người đang sống ở vùng giải phóng Đông Hà, mà quân ta bắt được, khi cô ôm con nhỏ, lần đường trốn về đất địch để theo chồng. Chồng Phương bị ta xác định là tên chỉ điểm nằm vùng của quân đội Sài Gòn, đã từng gây thiệt hại cho cách mạng. Trong lí lịch, Phương có bố là sĩ quan Ngụy. Thân phận của Phương phản ánh bi kịch của một giai đoạn lịch sử đau xót, xảy ra tại miền Nam. Mẹ Phương - bà Lụa, có chồng tên Nguyễn Bình là Bí thư Huyện ủy. Bà có chửa với ông Bình thì bắt buộc phải lấy một sĩ quan Sài Gòn. Viên sĩ quan lấy bà Lụa và yêu Phương như con đẻ. Thời kỳ sau năm 1954 ở miền Nam, có âm mưu chiêu hồi hết sức thâm nho. Chính quyền Ngô Đình Diệm thưởng lớn cho các sĩ quan, công chức nếu họ tiếp cận, lấy được vợ của Cộng sản. Thế là họ cứ “3 cùng” ăn dầm ở dề hàng năm hàng tháng, trong nhà những người đàn bà đang phải sống đơn giá. Một phút yếu lòng, là thành “vợ Ngụy”. Còn Phái - chồng Phương không phải là chỉ điểm, anh là chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật. Phương không tin chồng mình làm hại cách mạng. Do nhận biết nhân cách của Phái, nên Phương đi tìm gặp, để hỏi chồng cho ra nhẽ.

Nguyễn Hải - Chính trị viên Tiểu đoàn là mẫu người hết sức cứng nhắc, võ đoán, thiếu sâu sắc, hay nhìn hiện tượng đánh giá bản chất. Vì những trùng hợp ngẫu nhiên giữa mối quan hệ của Tiểu đoàn trưởng Vũ Thành Cát với cậu lính trẻ Vũ Thành Đá, hai người trùng họ, tên đệm lại đi liền vật liệu “đá” với “cát”; trong thời gian tập kết, ông Cát công tác tại quê của Đá, trùng với năm Đá ra đời, nên Nguyễn Hải viết báo cáo gửi trên, tố “Vũ Thành Đá là con rơi của Vũ Thành Cát”. Ông Hải không chịu được cán bộ, chiến sĩ dưới quyền góp ý xây dựng cho mình, kể cả khi mình trái lè. Vì thế ông xóa sổ, “xé nhỏ” cả một tiểu đội, vất mỗi chiến sĩ đến một đơn vị khác để hết những kẻ “chống đối”. Nhưng trước sự chân thành và tấm gương anh dũng tuyệt vời của Đá, qua những trận đánh khốc liệt, đã dần cảm hóa, làm Nguyễn Hải nhận biết giá trị của đồng đội mình mà yêu thương Đá thật lòng, khi viên sĩ quan trẻ, tài năng này bị thương nặng.

Tiểu thuyết viết về chiến tranh, nên đã tái hiện khá sắc nét những trận đánh mà tác giả từng trải qua. Ở Quảng Trị, tính ra mỗi người lính giải phóng phải chịu đến năm tấn thuốc nổ bom đạn: “Nhiều đơn vị cấp đại đội tưởng chừng như xóa sổ, chỉ còn hơn chục tay súng. Thậm chí có trung đoàn chỉ còn chưa đầy trăm người”. Tiểu thuyết mô tả những đại đội vượt sông Thạch Hãn vào tiếp viện bổ sung quân cho thành cổ Quảng Trị: “Đại bác các loại nổ không ngớt, mặt sông dựng lên những cột nước khổng lồ. Có đơn vị vừa xuống nước là đã mất hết, không còn một ai. Những xác người tung lên cao mấy mét rồi rơi xuống chìm nghỉm... Máy bay trực thăng bay dọc sông, xả súng liên thanh, thả lựu đạn vào giữa những người lính trên mặt nước. Các anh chơi vơi, chìm dần…”.

Về hòa hợp giữa quân đội Sài Gòn và quân giải phóng khi Hiệp định Pa-ri vừa ký, tác phẩm có những dòng cảm động mà chỉ người trong cuộc mới chứng kiến được. Tôi thích các đoạn hai bên đối thoại “Có phải đằng ấy bữa trước cầm cờ giải phóng, đứng thách cánh này bắn phải không”. “Thì ra đằng ấy bắn, thiện xạ đấy, cờ rách bươm mà mình không dính viên nào”. “Nếu trúng đạn?”. “Mình có hận thù gì nhau đâu? Bởi thế mình nghĩ, chẳng ai nỡ đang tâm giết nhau, khi đã ngừng tiếng súng”.

     Trọng Khang (CTV)

 

.
.
.
.
.
.
.
.