Tình yêu đất nước trong "Mặt trời đêm"

Thứ Bảy, 13/01/2018, 09:37 [GMT+7]
.
.

Nhà thơ Trịnh Công Lộc đã định danh tên tuổi mình trên văn đàn Việt Nam với bài thơ “Mộ gió”. Với tập thơ "Mặt trời đêm", tinh thần dân tộc một lần nữa được ông khơi lại khi viết về nỗi niềm của những người lính hi sinh vì sự nghiệp giữ yên bờ cõi…

Trong tác phẩm “Mặt trời đêm”, Trịnh Công Lộc tiếp tục khẳng định giọng điệu thi ca của mình theo mạch cảm xúc về tình yêu đất nước với một tâm thế sâu sắc hơn, suy tư hơn. Nhà thơ bày tỏ những cảm quan của mình về quê hương, dân tộc, về những góc riêng của cuộc sống thường nhật nhưng chứa đựng ở đó là những nỗi niềm nhân thế với trách nhiệm công dân của nhà thơ.

Trang bìa tập thơ.
Trang bìa tập thơ.

Thơ ông có cốt cách của người kiệm lời, kiệm chữ, nhưng ẩn chứa trong đó là biết bao xót xa, đau đớn và dằn vặt khi đứng trước sự xâm lăng của kẻ thù ở mọi hình thức. Ông như một nghệ sĩ nhiếp ảnh sử dụng kỹ thuật của ánh sáng, của ngôn ngữ nhiếp ảnh để mô tả cái sâu xa mà ông đang hướng tới trong bài “Đỉnh núi”: “Mỗi tấc đất đã bao nhiêu máu/ Thắm lên từng vách núi ngọn cây/ Mỗi đỉnh núi một bàn thờ Tổ quốc/ Ngát linh hương nghi ngút trời mây.” Có thể nói đó là một hình tượng khá mới và độc đáo khi thi sĩ dùng hình ảnh "bàn thờ Tổ quốc". Đó là tư duy không phải ai cũng dễ dàng gọi tên ra được.

Có khi ông lại bảng lảng ưu tư, như trong bài Cao Xiêm: “…Tiếng đá Ba Lanh vọng thức/ Vang dậy Khe Vằn/ Giao duyên suối tóc/ Soóng cọ thành dây/ Buộc sông buộc núi…”. Và không chỉ dừng lại ở những ưu tư nỗi niềm nhân thế, những câu chữ không còn ghìm giữ trong trái tim thao thức của nhà thơ nữa, mà nó bung phá bằng những lời sắc như lưỡi kiếm khi ra trận: “Biên giới là hai bên/ Đất cũng đều là đất/… Biên giới là hai bên/ Bên ta và bên họ/ Mọi thứ chẳng khác nhau là mấy/ Chỉ lòng người khác biệt nhiều thôi.”. Thật day dứt và đầy xúc cảm.

Cùng với mạch cảm về biên cương ấy, nhà thơ Trịnh Công Lộc còn cho chúng ta được thăng hoa cùng ông với mảng đề tài về Vùng than, nơi ông đã gắn bó cả cuộc đời. Những câu thơ viết về than cũng chan chứa những khắc khoải. Nhà thơ đã dốc hết những suy tư, những cảm thông và trân trọng những người thợ mỏ để dâng cho đời những câu thơ cũng khác biệt như than. Tên những bài thơ của ông cũng có những điều khiến ta phải nghĩ suy. Ta hãy cùng ông đi dọc triền than nhọc nhằn ấy, như: “Than/ Đứa con một/ Triệu năm đất nặng đẻ đau…/ Lớp lớp tầng sâu/ Đại thụ than mọc từ bóng tối…” (Than đứa con một). Hoặc trong bài “Báu vật”, ông đã thốt lên những câu chữ lay động người đọc: … “Đã khác xưa/ Không  kéo mặt trời xuống thấp/ Không cấp tập xe goòng/ Không thay lửa nấu cơm/… Mỗi mét lò/ Tính từng mạng sống/ Đắp lên da thịt một đời…”

Ông không chỉ viết về những người làm than trực tiếp nhọc nhằn mà còn khắc họa ở một chiều sâu hơn thế, khi :“Mùa than/ Mây đanh lại góc trời/ Dốc Hà Tu nắng đổ/ Mưa xối xả than trôi/ Lộ thiên cao chất ngất/ Moong đã thành mắt mỏ/ Hay đã thành hố mắt/ Tìm than” (Lộ thiên). Chỉ có những người làm mỏ mới thấu hiểu được công việc đặc biệt ấy…

Với mạch cảm chủ đạo về quê hương, về biên cương, về những người thợ mỏ mà ông luôn yêu mến và trân trọng, “Mặt trời đêm” đã đem đến cho người đọc nhiều suy tư và day dứt.
 

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc

Tin liên quan

 

.
.
.
.
.
.
.
.