"Quảng Ninh đóng góp tiếng nói có trọng lượng trong văn chương, nghệ thuật cả nước"

Chủ Nhật, 24/12/2017, 07:30 [GMT+7]
.
.

Nhà thơ Vũ Quần Phương có nhiều bài thơ hay ghi lại cảm xúc về mỗi vùng đất đã đi qua, trong đó có Quảng Ninh. Ở cương vị một nhà phê bình, nghiên cứu văn học, ông cũng rất quan tâm đến tình hình phát triển của thơ ca Vùng mỏ; nhiều lần ông được mời về Quảng Ninh làm giám khảo trong các cuộc thi văn học.

Nhân dịp nhà thơ Vũ Quần Phương dự hội thảo khoa học toàn quốc với chủ đề “Các xu hướng vận động của văn học nghệ thuật Việt Nam hiện nay - Thực trạng và định hướng phát triển”, vừa được tổ chức tại TP Hạ Long đầu tháng 12 vừa qua, phóng viên Báo Quảng Ninh đã có cuộc trò chuyện với ông.

- Thưa ông, trong "bức tranh chung" của văn chương, nghệ thuật cả nước, Quảng Ninh cũng có sự vận động nhất định. Ông nhìn nhận về hiện tượng này như thế nào?

+ Văn chương, nghệ thuật Quảng Ninh mang nét đặc trưng của văn chương, nghệ thuật cả nước nhưng lại có riêng cái xốc vác, vạm vỡ, mạnh mẽ của người lao động, mà ở đây cụ thể là công nhân mỏ. Chính cái đó bổ sung cho nền văn chương, nghệ thuật miền Bắc và cả nước sau năm 1975. Cùng hòa nhập vào cái chung cả nước, các nhà văn Quảng Ninh mở rộng ra rất nhiều đề tài. Trước đây văn nghệ sĩ chủ yếu tập trung khai thác các đề tài xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà mà ít đi vào những đề tài như tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình;  nỗi buồn thân phận cá nhân được xếp lại.

 
Quảng Ninh đóng góp tiếng nói có trọng lượng trong quần thể VHNT cả nước
 
Nhà thơ Vũ Quần Phương

Văn chương, nghệ thuật giai đoạn sau đã nói cả cái buồn thương riêng của số phận được trình bày phong phú hơn. Văn chương, nghệ thuật có điều kiện được thương người hơn. Tôi nói ví dụ sau này văn chương, nghệ thuật đi sâu vào miêu tả nỗi lòng của bà mẹ sau khi tiễn con ra trận thì đằng đẵng đợi tin con. Thực ra, cảm hứng buồn thương giai đoạn sau cũng hòa vào bổ sung cho cảm hứng anh hùng ca cho giai đoạn trước.

Có những nhà văn Quảng Ninh giai đoạn sau mở ra đời sống hiện thực, trong đó có cả những nét tiêu cực, nét khiếm khuyết nhưng lại rất hiện thực. Những cái đó văn chương, nghệ thuật giai đoạn trước tránh đi, chưa nói được. Ví dụ, có bà vợ xa chồng thì nhớ nhưng lúc chồng đi chiến trận về lại bị chồng đánh hằng ngày. Đấy là cái chuyển biến của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của giai cấp công nhân nhưng rồi sau này nói cả những cái buồn thương riêng tư của thân phận. Mà theo tôi với công nhân, những số phận thiệt thòi thì tôi cho rằng nhiều lắm.

Có những nhà văn, nhà thơ Quảng Ninh biết khéo tựa vào hiện thực đó làm một lối đi. Tuy nhiên, đến lúc nào đó mảng đề tài này lại bão hòa, phải thay đổi, phải tìm một vạt khác lãng mạn hơn khi đến với Yên Tử, với Hạ Long chẳng hạn. Thế rồi, cũng vẫn phải tiếp tục thay đổi. Trong sự tìm tòi thể nghiệm của các cây bút Quảng Ninh, có lúc thuận nhưng có cả những lúc lúng túng. Như vừa rồi ở Quảng Ninh có một tập thơ ra đời làm phát sinh những tranh luận lùm xùm. Tôi cho rằng, người sáng tác có lúc lúng túng, vấp váp là chuyện bình thường. Đã là người sáng tác, khi vấp váp thì khắc phục, đứng dậy thôi.

- Nói gọn lại, theo ông, văn chương, nghệ thuật Quảng Ninh đứng ở đâu trên “bản đồ” chung của cả nước?

+ Tôi cho rằng văn chương, nghệ thuật Quảng Ninh vẫn là tiêu biểu, kể cả trước đây và bây giờ. Quảng Ninh sản sinh ra đội ngũ văn nghệ sĩ đông đảo và có được tiếng nói riêng. Về văn xuôi, tiêu biểu có Dương Hướng, nhà văn xuất sắc xuất hiện từ sau công cuộc đổi mới của đất nước. Và từ đó đến nay, anh vẫn viết đều đặn và trụ lại ở một số chủ đề, vạt đề tài sở trường. Điều này đã khẳng định được bản lĩnh của người cầm bút Quảng Ninh.

Nhà thơ Vũ Quần Phương trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Quảng Ninh.
Nhà thơ Vũ Quần Phương trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Quảng Ninh.

- Ngoài nhà văn Dương Hướng, ông còn chú ý đến những gương mặt nào, thành tựu nào của VHNT Quảng Ninh trong những năm gần đây?

+ Thú thực, đây là thiếu sót của riêng tôi và nhiều người thuộc thế hệ tôi. Thường thì mình hay quan tâm đến thế hệ trước rồi đến thế hệ mình và sau mình chỉ một nhịp thôi. Tác phẩm của những người viết thế hệ 8X nói như nhà nghiên cứu Phong Lê là chúng tôi “trắng tay”. Ngay trong thế hệ kế cận chúng tôi thì thường chúng tôi cũng chỉ đọc được cái vạt mà mình cũng có dự phần ở trong đó. Bởi vậy, tôi vừa làm thơ vừa viết phê bình nên xin chỉ nói riêng về thơ. Sau giai đoạn chống Mỹ, thơ Quảng Ninh có nhiều tìm tòi, đi vào trào lưu nghệ thuật của phương Tây, như: Hậu hiện đại, tân hình thức. Cái này với thế giới không mới nhưng với chúng ta thì "cũ người mới ta".

Ở Quảng Ninh, có một số anh em trẻ đi vào tìm tòi, thể nghiệm trào lưu này. Trước đây, mình cách bức với nó nên sau đó thấy cái gì lạ cũng sà vào. Nhưng bây giờ các bạn trẻ đã tỉnh táo hơn. Sau 30 năm, giới làm thơ bàn luận với nhau chứ độc giả khi nào họ hiểu họ mới nhập cuộc. Giai đoạn này, thành tựu của thơ chín chậm hơn so với 2 giai đoạn: Thơ Mới và thơ chống Mỹ. Tại sao lại chậm? Chậm vì xu hướng lóa ra vùng ánh sáng chói lòa nên hơi bị sốc. Đến bây giờ thì người làm thơ mới bình tĩnh lại. Tôi chắc chắn sau khoảng 10 năm nữa, thơ Quảng Ninh sẽ định hình rõ nét hơn thay vì vẫn là sự thể nghiệm trong giai đoạn vừa qua. Hiện tại, kể ra một vài gương mặt trẻ thì không chỉ ở phạm vi Quảng Ninh mà trong cả nước tôi cũng cảm thấy lúng túng.

.

- Thưa ông, trong bài thơ “Giã từ Yên Tử” của ông có câu thơ làm tôi rất nhớ là “Ta về phố chợ với người hồng nhan”. Phải chăng ông muốn gửi gắm thông điệp rằng văn chương, nghệ thuật phải gắn với cuộc đời bụi bặm, xô bồ nhưng sinh động của công nhân mỏ?

+ Tôi xin nói ngay rằng mảnh đất này vừa có dòng thiền Trúc lâm thâm trầm vừa có công nghiệp khai thác than sôi động là một sự tình cờ của lịch sử mặc dù khi vua Trần về đất Quảng Ninh thì chưa có công nghiệp, chưa phát hiện ra than. Nhưng cái trùng hợp là đặc điểm của dòng thiền Trúc lâm là Đạo phải gắn với Đời, nghĩa là “Cư trần lạc đạo”, trong cõi trần thì sẽ tìm ra niềm vui của đạo. Chính vì vậy, tôi mới viết câu thơ như anh vừa nhắc. Phố chợ tức là thành thị, về với cuộc sống đời thường, với tình yêu gia đình, với người yêu nào đó.

Về bài thơ này cũng có chuyện làm tôi nhớ mãi. Trước đây, có một cựu chiến binh nào đó ở Uông Bí nhầm thơ của tôi với thơ của vua Trần Nhân Tông, đem in vào tập giới thiệu thơ Trần Nhân Tông. Rồi một nhà nghiệp dư ở Nam Định khi làm tuyển tập lại lấy nguồn này đưa vào bảo là thơ Trần Nhân Tông, sau đó, còn bình luận nhiều điều về bài thơ ấy...

- Thế rồi câu chuyện về bài thơ viết ở Yên Tử này ra sao, thưa nhà thơ?

+ Sau này, tôi phải đi cải chính. Tôi cải chính rằng thơ tôi là lục bát còn vua Trần viết bát cú; tôi viết thơ chữ Quốc ngữ còn vua viết chữ Hán; ngôn ngữ của tôi bình dân đời thường, kiểu “Đã quen tiếng chó tiếng gà/ Mái tranh lạt buộc hiên nhà phên che”, còn Ngài là ngôn ngữ thiên tử, đế vương. Sau này, khi tiếp xúc với tôi, nhiều người mới tin là thơ tôi viết. Chứ nếu cứ để trong tập thơ Lý - Trần thì nhầm lẫn, không thể có chuyện vua Trần Nhân Tông lấy thơ tôi, mà chỉ có tôi lấy thơ của Ngài thôi chứ! (cười). Chuyện vui này cũng cho thấy, tôi tiếp cận được cốt cách tu mà gắn với đời. Trước đó, vua Trần Thánh Tông, cha của Trần Nhân Tông chẳng tuyên bố rằng, đi tu bỏ lại cung vàng điện ngọc như bỏ đôi giày rách để về sống với im lặng và mây bay, nghiền ngẫm sự đời.

Tôi thì ngược lại. Tôi xuống Yên Tử vì muốn giã từ kinh kệ để nghe chuyện đời, những chuyện của con người. Chứ còn cứ mãi kinh kệ thì sẽ sinh ra giáo điều không còn sinh động đời sống nữa. Hồi tôi viết bài này, Đảng đang có chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, lấy sự thật làm tiêu chí chứ không phải lấy sách vở làm tiêu chí. Tôi viết bài thơ này từ câu chuyện của Yên Tử kết hợp tính thực tế của dòng thiền Trúc lâm và thực tế công cuộc Đổi mới của Đảng. Lấy chuyện đời làm tiêu chí cho nghệ thuật. Và tôi nghĩ rằng cái chuyện đời ấy muôn thuở vẫn là chỗ xuất phát của nghệ thuật và là chỗ thẩm định tiêu chí giúp đời của văn nghệ sĩ.

Phạm Học - Hùng Sơn - Lương Công (Thực hiện)

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.