Bản văn hoá người Tày ở Đồng Thanh (Bình Liêu)

Thứ Ba, 28/11/2017, 15:14 [GMT+7]
.
.

Bình Liêu là huyện miền núi, biên giới với trên 96% dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số. Trong số đó, người Tày chiếm trên 51% dân số- là cộng đồng dân tộc đông nhất huyện và là đại diện những nét văn hoá đặc trưng tộc người Tày ở Quảng Ninh. Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của người Tày góp phần phát triển du lịch, huyện Bình Liêu đã xây dựng Đề án Quy hoạch bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá người Tày ở bản Đồng Thanh, mục tiêu xây dựng Đồng Thanh trở thành một địa chỉ du lịch văn hoá hấp dẫn.

Bản Đồng Thanh còn lưu giữ những ngôi nhà cổ đặc trưng của người Tày, là nơi bảo tồn văn hóa người Tày ở Bình Liêu
 Bản Đồng Thanh đẹp như bức tranh

Bảo tàng thu nhỏ ở Đồng Thanh

Đồng Thanh nằm bên trái con đường lên Hoành Mô, cách cửa khẩu vài km. Lấp loáng xen giữa những ruộng dong riềng, những ruộng lúa chín vàng là những ngôi nhà cổ của đồng bào Tày với đặc trưng tường đất, mái ngói âm dương màu xám.

Những ngôi nhà đã có từ hàng trăm năm, mang đậm những nét cổ kính.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày có tuổi đời cỡ trăm năm của ông Phan Ngọc Sinh.

Theo thống kê của Trung tâm Truyền thông- Văn hoá huyện Bình Liêu, bản Đồng Thanh hiện có 106 hộ với 406 khẩu, 100% là người Tày. Bản còn 8 ngôi nhà truyền thống (chiếm khoảng 50% tổng số nhà truyền thống của người Tày của toàn huyện), trong đó có 4 nhà vẫn giữ được nét kiến trúc truyền thống của người Tày. Nổi bật nhất và cũng nổi tiếng nhất trong số đó là căn nhà của ông Phan Ngọc Sinh.

Nằm giữa cánh đồng lúa, ngôi nhà của ông Sinh mang đậm nét kiến trúc truyền thống của người Tày. Ngôi nhà có diện tích 110m2 gồm 3 gian, 2 chái với 6 phòng ngủ, ngoài ra còn có các gian tiếp khách, bếp. Bên trên có 1 tầng gồm 3 phòng, trong đó gian giữa dùng để thờ cúng, hai gian bên dùng chứa lương thực, đồ dùng sinh hoạt, hạt giống. Toàn bộ tường nhà xây bằng đất, cầu thang, sàn được làm bằng gỗ lim. Ngôi nhà có 1 cửa chính ở gian giữa, 1 cửa vào gian bếp và 1 cửa nhỏ mở ra lối vườn rau sau vườn. Các gian đều có cửa sổ nhỏ để lấy ánh sáng. Trên tầng 2, mỗi gian có 1 cửa, lan can được làm bằng gỗ. Do được xây bằng đất lại bố cục như vậy nên ngôi nhà mát vào mùa hè và ấm về mùa đông.

Đã bao năm, dù xây tường gạch mộc nhưng ngôi nhà vẫn rất chắc chắn.
Đã bao năm, dù xây tường gạch mộc nhưng ngôi nhà vẫn rất chắc chắn.
Gian bếp được bố trí mang đặc trưng của người Tày.
Gian bếp được bố trí mang đặc trưng của người Tày.
Cầu thang gỗ dẫn lên tầng 2.
Cầu thang gỗ dẫn lên tầng 2.
Gian thờ tổ tiên.
Gian thờ tổ tiên.

Theo ông Sinh, ngôi nhà đã có từ đời ông nội của ông, năm 1969 có tu sửa lại, đến nay vẫn giữ nguyên hiện trạng, chắc chắn.

Đáng chú ý, giá trị ngôi nhà của ông Sinh không chỉ về mặt kiến trúc mà chủ nhân ngôi nhà còn giữ được rất nhiều đồ dùng sinh hoạt, dụng cụ sản xuất có tuổi đời hàng chục năm mà ngày nay không dễ tìm thấy khiến cho ngôi nhà giống như một bảo tàng thu nhỏ. Có thể kể đến như chiếc khung cửi dệt vải, dụng cụ làm miến, làm bún, đấu đong thóc, khuôn làm đậu phụ, nghiên mài mực tàu bằng gỗ, bàn là “con gà”, giỏ bắt cá… Lại có cả chiếc ghế dài nan, đố bằng tre, khung gỗ rất lạ, độc đáo. Tất cả đều nhuốm bụi thời gian. Ngoài ra phải kể đến các nông cụ truyền thống của người Tày như cuốc, mai, máy quạt lúa, cối giã gạo, gùi, nong, nia, sàng, sảo…

Đấu đong thóc gạo bằng gỗ, bàn là
Đấu đong thóc gạo bằng gỗ, bàn là "Con gà", nghiên mài mực... vẫn được ông Sinh giữ gìn, bảo quản nguyên vẹn.
Phóng viên Báo Quảng Ninh phỏng vấn ông Phan Ngọc Sinh về lịch sử ngôi nhà.
Ông Phan Ngọc Sinh trao đổi với PV Báo Quảng Ninh về lịch sử ngôi nhà.

Ông Sinh cho biết, đã có người tới hỏi mua những dụng cụ trên nói về đưa vào bảo tàng nhưng ông không bán. Ông muốn lưu giữ những kỷ vật của cha ông cho mình và cho con cháu sau này.

Hiện nay, ông Sinh sống cùng vợ và người em gái tại ngôi nhà. Các con đều lập nghiệp, công tác ở nơi khác, chỉ cuối tuần chúng về thăm bố mẹ. Khi ấy, ngôi nhà lại là nơi quần tụ, sum họp của cả gia đình.

Định hướng bảo tồn các giá trị văn hoá

Như trên đã nói, bản Đồng Thanh nói riêng, huyện Bình Liêu nói chung là nơi cư trú chủ yếu của người Tày ở Quảng Ninh. Đó là điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của người Tày. Được biết, hầu hết các hộ người Tày tại bản Đồng Thanh đều sống, gắn bó với nghề nông từ lâu đời. Trong khi ngày càng nhiều những ngôi nhà bê tông, nhà ngói mới mọc lên thì những ngôi nhà truyền thống như ở bản Đồng Thanh là rất ý nghĩa, là tư liệu quý cho những ai nghiên cứu, tìm hiểu về nhà truyền thống của người Tày.

Video clip:

.

Khác với người Dao, nếu như trang phục của người Tày ở Bình Liêu khá đơn giản thì ẩm thực của đồng bào lại rất phong phú, đa dạng. Các món ăn chế biến từ thịt lợn có khau nhục, nằm quắt (chân giò ướp tẩm gia vị ninh mềm đến cạn nước), chân giò ninh rượu và gừng, thịt lợn hấp rượu, gừng, cơm xào sườn non với thân chuối rừng non; chế biến từ thịt trâu, bò có thịt trâu hun khói, tái dê trộn hoa chuối rừng; chế biến từ gia cầm có gà bản, ngan đen, canh gà nấu gừng; chế biến từ thuỷ sản có cá suối chao cuốn lá lốt, canh cá măng chua, ốc suối; chế biến từ côn trùng có trứng hiến, nhộng ong. Với các sản phẩm từ ngũ cốc có các loại xôi màu, bánh coóc mò, bánh ngải, bánh tài lồng…

Nghệ thuật biểu diễn của người Tày ở Bình Liêu đến nay còn khá phong phú, tiêu biểu là hát then (gồm nghi lễ then, lượn then và hát then đàn tính) đã được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia (cùng với tỉnh Lào Cai, Tuyên Quang). Các trò chơi dân gian có đẩy gậy, đánh quay, ném còn, bắn nỏ, thi gói bánh, đan lát…

Theo các nhà nghiên cứu, ngôn ngữ nói của người Tày ở Bình Liêu thuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái. Đây là ngôn ngữ có vốn từ vựng rất phong phú, có hệ số đếm tương đối hoàn chỉnh, là ngôn ngữ chính dùng để giao tiếp trong các gia đình dân tộc Tày ở địa phương. Kho tàng văn học dân gian của người Tày phong phú với các thể loại câu đố, tục ngữ, dân ca, chuyện cổ đi vào đời sống một cách tự nhiên qua lời ru, chuyện kể lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác…

Những năm qua, huyện Bình Liêu đã dành nhiều sự quan tâm đến bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá của đồng bào Tày nói riêng, các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện nói chung, coi đây là tài nguyên phát triển du lịch. Mục tiêu này đã được thể hiện cụ thể qua Nghị quyết số 01-NQ/HU ngày 31/7/2015 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về phát triển du lịch huyện Bình Liêu giai đoạn 2015 – 2020, định hướng đến năm 2030. Các lễ hội văn hoá như Lễ hội đình Lục Nà, Lễ hội hoa sở được định kỳ tổ chức là dịp để người Tày bảo tồn, phát huy các nghệ thuật hát then, nghề truyền thống, trò chơi dân gian, văn hoá ẩm thực… của mình. Qua các lễ hội, các giá trị văn hoá của người Tày đã được quảng bá, giới thiệu rộng rãi tới du khách. Bình Liêu ngày càng trở thành điểm đến của khách du lịch, được ví như “Sa pa thu nhỏ của Quảng Ninh”.

Tuy nhiên, trước những tác động của cuộc sống, việc bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống ở bản Đồng Thanh nói riêng, của người Tày ở Bình Liêu nói chung gặp không ít trở ngại. Đơn cử như vấn đề bảo tồn các ngôi nhà cổ đòi hỏi cơ chế, chính sách hỗ trợ các hộ như thế nào; rồi là gìn giữ trang phục, nghề truyền thống, tín ngưỡng… khi mà lớp già ngày càng vơi đi, lớp trẻ thì ít quan tâm. Giải quyết bài toán ấy bên cạnh công tác quy hoạch, huy động nguồn lực cần có sự ủng hộ, vào cuộc của người dân, các cơ chế, chính sách, rồi cần lồng ghép với các dự án kinh tế- xã hội trên địa bàn.

Trên thực tế, những năm qua, mô hình thôn- bản văn hoá của đồng bào các dân tộc đã được xây dựng thành công ở một số tỉnh như Điện Biên, Hoà Bình, Yên Bái, Sơn La và những bản này đã và đang là những địa chỉ du lịch văn hoá hấp dẫn. Hy vọng, trong tương lai không xa, Đồng Thanh cũng sẽ được xây dựng thành bản văn hoá- nơi du khách không thể bỏ qua khi đặt chân đến Bình Liêu.

Trần Minh- Hùng Sơn- Lương Công

.
.
.
.
.
.
.
.