Thơ Long Chiểu - Khúc tráng ca về Vùng mỏ

Chủ Nhật, 02/07/2017, 08:37 [GMT+7]
.
.

Cả đời chỉ in duy nhất một tập thơ nhưng nhắc đến nhà thơ Long Chiểu bạn yêu văn chương Quảng Ninh ai cũng biết. Thơ Long Chiểu trước đây chủ yếu viết trong những năm tháng Vùng mỏ làm than và đánh giặc. Bây giờ, ông vẫn lặng lẽ sáng tác những bài thơ có thứ hương thơm dịu nhẹ, lan toả mà không ồn ào.

Nhà thơ Long Chiểu.
Nhà thơ Long Chiểu.

Nhà thơ Long Chiểu sinh năm 1937, quê ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá, từng công tác ở ngành Xây dựng Quảng Ninh cho đến lúc nghỉ hưu. Ông làm thơ từ khi còn là học sinh, năm 1955 đã có thơ in trong Tạp chí Thanh niên xung phong. Ông là hội viên Hội VHNT Quảng Ninh từ 1969 khi vừa thành lập Hội cùng thời với các nhà thơ mà tên tuổi đã gắn liền với thơ chống Mỹ cứu nước ở Vùng mỏ, như: Trí Dũng, Yên Đức, Sỹ Hồng, Lê Hường, Chử Văn Long, Phạm Doanh, Thuỷ Nguyên, Thái Giang v.v.. Hiện nay ông sống với con cháu ở phường Nam Khê, TP Uông Bí nơi ông coi là quê hương thứ hai của mình: “Uông Bí đó, ta về xây dựng lại/ Cần trục vươn trên xác bốt quân thù/ Từng thước đất nơi đây còn nhắc mãi/ Những anh hùng lừng lẫy chiến công xưa”. Ông vẫn viết đều nhưng chỉ gom những sáng tác của mình xuất bản tập thơ duy nhất lấy tên là “Sóng biển em” (NXB Hội Nhà văn, 2005).

Thơ Long Chiểu có âm hưởng của chất tráng ca dào dạt theo cảm xúc, câu chữ tuôn trào tự nhiên ít thấy dấu vết ông lập tứ hay kiến trúc trước cho toàn bài. Người xưa nói: “Lập thân tối hạ thị văn chương”. Tôi tin chắc rằng, Long Chiểu chưa bao giờ có ý định lập danh bằng văn chương nữa. Mà ngược lại thơ đã đến và chọn Long Chiểu. Nhà thơ Long Chiểu làm thơ để đẩy cảm xúc đi chứ không phải gò câu đẽo chữ, càng không phải kiểu làm duyên làm dáng. Tôi đã đọc tập thơ ông tặng nhưng thú thực đọc thơ ông không thể khoái bằng nghe chính ông đọc. Bởi vì dù nhân vật trữ tình có là “em” đi nữa thì thơ Long Chiểu vẫn là dòng tâm sự tự bạch từ đáy lòng: “Đường em đi/ Vẫn nghe rõ tiếng còi tầm chở than nuôi nhà máy/ Bom sụt ống khói cao, rặng đèn đứt gãy/ Theo ống ngầm, khói trắng lại bay lên” (Đường em đi).

Long Chiểu miêu tả Vùng mỏ trong bom đạn ác liệt nhưng vẫn phát hiện ra cái bình thản của con người: Tay em làm nhịp mái chèo/ Nâng trên tầm mắt sắc chiều Hạ Long/ Đây trời đây biển song song/ Miên man buồm trắng, buồm hồng tới đâu.../.../ Bát mì có khói bom xô/ Củ khoai đất chói pháo dù đêm đêm/ Đất nuôi lớn bổng đời em/ Vút trong chiều hạ bông sen trắng hồng...” (Một chiều Hạ Long). Hay như ở một chỗ khác: “Em sớm nay nón trắng đội đầu/ Chân giẫm dấu bom đất nguội/ Gặp nắng long lanh chùm lá mới” (Mùa hạ ong bay). Có chỗ thể hiện rõ “bệnh nghề nghiệp” của một người lâu năm làm xây dựng dù nó đã bị át đi nhiều bởi cái hồ hởi của con người đón nhận cuộc sống mới: “Máy trắc đạc đã phóng đường toạ độ/ Của những công viên của những ô nhà/ Toạ độ dựng xây chăng ngang dọc bàn cờ/ Trên những phố Lán Bè, Lò Vôi, Dốc Học (Trên mặt bằng). Viết về đời sống công nghiệp mà vẫn lãng mạn là cái khó. Và Long Chiểu đã vượt qua được cái ranh giới mỏng manh ấy: “Vẫn cuốc than này/ Than ra, than ra/ Ùa bến cảng/ Sóng vỗ trắng đuôi tầu/ Rừng cột buồm chao cánh hải âu/ Chở than đi những luồng sông quê hương/ Chân trời bè bạn/ Chúng tôi lại vào than mùa hoa dâu da trắng...” (Miền đông).

Vì thơ mang âm điệu tráng ca nên Long Chiểu ít khi nói về mình. Nếu có thì tâm sự cá nhân đều được gắn với những vấn đề lớn của thời đại của quê hương đất nước: “Thị xã đúc bê tông xây hào đánh giặc/ Lau sậy bay trắng đường/ Nơi sơ tán, đèn dầu soi thiết kế/ Ta tìm về ngôi nhà năm tháng yêu thương” (Không thể xoá tên). Ngay cả khi viết về gánh nặng thời gian khi tuổi đã xế chiều ông vẫn nhẹ bẫng. Hay như khi người ta đăng cao để viễn vọng, để hét vang lạnh cả trời, để thấy trúc tre cũng chỉ đến chân, đi để mưu cầu bổng lộc, còn Long Chiểu lên cao để mà tìm câu thơ: “Tôi tới chùa Đồng bỏ quên ăn oản lộc/ Nhớ em đứng một mình dưới bờ ao trúc mọc/ Tìm câu thơ về - cùng em hát em ơi” (Bài thơ Gậy trúc). Say thơ, mê thơ Long Chiểu đọc nhiều, nhớ nhiều thơ người thơ mình. Tìm được bạn tâm giao, ông đọc thơ cả ngày không biết chán, không hết. Ốm thập tử nhất sinh gượng dậy hỏi ông nhớ gì liền mấp máy môi bảo nhớ thơ.

Nói về nhà thơ Long Chiểu, nhà thơ Nguyễn Châu, nguyên Trưởng Ban Thơ (Hội VHNT Quảng Ninh) đánh giá: “Thơ Long Chiểu thường gây được nhiều cảm tình cho người đọc ở những bài mang chất tráng ca, những câu thơ nhiều xúc cảm, cứ như gọi nhau nối tiếp, không lệ thuộc vào tứ toàn bài. Âm điệu vần nhịp mới mẻ, không lệ thuộc âm điệu vần nhịp thơ truyền thống. Những câu thơ gọi những câu thơ lần lượt nối tiếp nhau... Và Long Chiểu chỉ viết hay được khi trái tim thật sự rung động”.

“Sóng biển em” với 50 bài chưa phải là cả “cơ nghiệp thơ” của Long Chiểu. Nhưng chỉ xuất bản ngần ấy thôi cũng đủ góp mặt trong chiếu thơ Quảng Ninh, một tiếng thơ rất riêng khó lẫn: Hào sảng mà không lên gân, dạt dào mà không quên tinh tế, mạnh mẽ mà vẫn giản dị. Thơ Long Chiểu như nhân cách của ông: Đáng quý và đáng trọng.

Phạm Học

.
.
.
.
.
.
.
.