Dấu chân người Vùng Than

"Ngôi sao Hạ Long" Nguyễn Thị Lưu

Chủ Nhật, 16/10/2016, 11:14 [GMT+7]
.
.

Đồng chí Nguyễn Thị Lưu (vốn được nhân dân Vùng mỏ gọi là chị Cả Khương) là đảng viên được Xứ ủy Bắc Kỳ cử về vô sản hóa tại nhà sàng Hòn Gai đã kiên cường trước sự tra tấn dã man của kẻ thù, bảo vệ cơ sở cách mạng. Cuộc đời chị đã trở thành nguyên mẫu để Đoàn NT Chèo Quảng Ninh xây dựng vở “Ngôi sao Hạ Long” nổi tiếng.

Tranh vẽ truyền thần chân dung chị Cả Khương. (Tư liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Ninh)
Tranh vẽ truyền thần chân dung chị Cả Khương. (Tư liệu của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Ninh)

Đồng chí Nguyễn Thị Lưu sinh năm 1903 trong một gia đình trung nông giàu truyền thống yêu nước, làng Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ba chị em Lưu được người anh trai và nhóm chiến sĩ cách mạng lớp đầu tiên của Bắc Ninh, trong đó có Ngô Gia Tự quan tâm dìu dắt bồi dưỡng. Mùa hè năm 1927, cả ba chị em gái đều được kết nạp vào Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội. Cuối năm 1928, cô gái Nguyễn Thị Lưu thoát ly gia đình tham gia cách mạng. Vì chị hoạt động bí mật nên gia đình, làng xóm không hề hay biết. Mọi người chỉ nghĩ rằng do không chịu ép duyên lấy một người đứng tuổi nên cô gái này đã trốn nhà đi biệt tăm tích. Đổi tên thành Nhâm, chị Lưu lên Hà Nội tham gia trong một cơ quan bí mật. Vốn nhanh nhẹn tháo vát nên chị được phân công làm liên lạc và lo đời sống cho anh em. Mọi người yêu mến chị thường gọi Nhâm là chị cả.

Cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập, chị Nhâm được phân công mang quyết định chuyển các chi bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Khu mỏ thành các chi bộ Đảng và sau đó ở lại để vô sản hóa. Sau khi vô sản hoá, đồng chí Nhâm được giao nhiệm vụ giữ mối liên lạc giữa Vùng mỏ với Hải Phòng, tiến hành công tác tuyên truyền trong công nhân và giới tiểu thương, phân phát báo Lao động của Tổng công hội Bắc Kỳ.

Theo cuốn “Những ngày ở mỏ” do Ty Văn hóa - Thông tin Quảng Ninh xuất bản năm 1971, chị ở trong một gia đình quần chúng cách mạng gần chùa Long Tiên (phường Bạch Đằng, TP Hạ Long ngày nay), lại một lần nữa chị đổi tên từ Nhâm thành Phan Thị Khương và bà con vẫn quen gọi là chị Cả Khương. Ngoài công việc của một công nhân nhà sàng, chị đã che giấu thân phận mình bằng cách đóng giả một tiểu thương ở chợ Hồng Gai. Ở đây chị đã chứng kiến bọn chủ thầu dựa vào quyền thế của chủ mỏ đã ra sức mua bán, cướp bóc của cải của bà con. Chị đặt nhiệm vụ cho mình phải giác ngộ những tiểu thương buôn thúng bán mẹt, khách hàng ở chợ Hồng Gai, công nhân nhà sàng.

Chị Phan Thị Khương đã vượt qua muôn vàn khó khăn để hoàn thành xuất sắc việc vận chuyển tài liệu, truyền đơn về Vùng mỏ đúng dịp kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5-1930. Điều vinh dự, chị đã được cấp trên phân công đi Hải Phòng lấy tài liệu và mua vải, may cờ mang về Hồng Gai. Lá cờ do chị Cả Khương may được phân công cho đồng chí Đào Văn Tuất (tức Nguyễn Thành) là công nhân lái xe hoả nhà sàng Ba Đèo, nhà ở chân núi Bài Thơ, cắm trên núi. Nhờ đó, sáng ngày 1-5-1930, lá cờ đỏ búa liềm đã tung bay trên đỉnh núi Bài Thơ. Áp phích, biểu ngữ được dán đầy phố, căng ngang cổng các nhà máy, truyền đơn bay đến tận các tầng lò, lán thợ suốt từ Hà Tu, Hà Lầm về đến Hồng Gai, Cẩm Phả. Cả Vùng mỏ bừng bừng một khí thế đấu tranh. Tháng 11-1930, chị Cả Khương còn vận động chị em tiểu thương đấu tranh đòi giảm thuế chợ, giảm giá hàng hóa ở chợ Hồng Gai.

Thực dân Pháp điên cuồng sục sạo, bắt bớ tra khảo tìm người đứng đầu. Mật thám tìm mọi cách dụ dỗ, đe dọa, đàn áp nhưng công nhân và tiểu thương vẫn không ai khai ra chị Cả Khương. Cuối tháng 5-1931, chị Khương bị giặc bắt do có người phản bội khai báo. Căn phòng chị ở bị lục tung để tìm ra tập truyền đơn kêu gọi chống khủng bố. Chúng giải chị đi qua chợ Hồng Gai. Bất ngờ chị nhảy lên một phản thịt ở chợ, kêu gọi tiểu thương và bà con thợ mỏ hãy quyết tâm đấu tranh và vững tin cách mạng sẽ đến ngày giành thắng lợi. Chúng điên tiết lôi chị treo ngược lên cành quéo (cạnh bến phà Bãi Cháy cũ) tra tấn rất dã man. Không moi được nửa lời từ chị, mấy tiếng sau chúng thả dây, đưa chị xuống một con tàu để chở về Hải Phòng. Đấy cũng là lần chị vĩnh biệt Vùng mỏ.

Theo như lời kể của bà Nguyễn Thị Minh Lãng (em gái chị Cả Khương), nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Hải Phòng: Chị Cả Khương dù bị địch tra tấn dã man nhưng vẫn kiên quyết bảo vệ cách mạng. Trong những ngày ở nhà giam Hải Phòng, chị còn tranh thủ tuyên truyền giác ngộ tù chính trị. Nhưng vì bị bỏ đói và chịu cảnh đánh đập tra khảo dã man của kẻ thù nên chị bị đau dạ dày nặng. Chúng định bỏ vậy không chữa để chị chết vì đau đớn. Tuy nhiên, một cuộc đấu tranh quyết liệt đã diễn ra trong tù do tù nhân phát động yêu cầu quản ngục đưa chị đi nhà thương. Nhưng chúng lại nhận mổ cho chị với điều kiện không dùng thuốc mê. Bọn quản ngục khiếp sợ khi thấy chị bị mổ sống mà không hề kêu một tiếng. Hai tuần sau, chị ra viện tiếp tục về trại giam tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho bạn tù.

Năm 1936, chị Cả Khương được ra tù nhưng phải chịu quản thúc. Sau đó chị tìm cách trốn đi, tiếp tục bắt liên lạc với cơ sở Đảng ở Hà Nội. Chị được phân công về hoạt động cách mạng ở Nam Định. Năm 1940, đồng chí Phan Thị Khương tham gia Tỉnh ủy Nam Định. Đến cuối năm 1941, do vết thương cũ tái phát, chị bị ốm nặng và đã qua đời không lâu sau đó.

Đồng chí Phan Thị Khương là tấm gương sáng, mẫu mực của một người nữ chiến sĩ cộng sản kiên trung bất khuất, một người thợ mỏ trung thành tuyệt đối với Đảng với tổ chức. Hoạt động của chị Cả Khương gần như gắn bó chặt chẽ với vùng Hồng Gai, chị được coi như một ngôi sao sáng trên bầu trời Hạ Long lúc đó.

Huỳnh Đăng

.
.
.
.
.
.
.
.