Dấu chân người Vùng Than

Sư Tuệ - Sống tâm ở Chiến khu, chết hồn về Chiến khu

Chủ Nhật, 14/08/2016, 16:11 [GMT+7]
.
.

Ông tên thật là Nguyễn Văn Tuệ (còn có tên gọi khác là Nguyễn Kiên Tranh), một chiến sĩ cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa ở Đệ tứ chiến khu. Ông đóng rất nhiều vai, lúc thì trong vai nhà sư ở chùa Bắc Mã (xã Bình Dương, huyện Đông Triều), khi thì vào vai chiến sĩ cách mạng và sau này là một nhà thơ với bút danh Tú Sụn.

Đồng chí Nguyễn Văn Tuệ (người ngồi) tại Chiến khu Đông Triều, tháng 6-1945. Ảnh tư liệu của gia đình bà Kim Tuyên
Đồng chí Nguyễn Văn Tuệ (người ngồi) tại Chiến khu Đông Triều, tháng 6-1945. Ảnh tư liệu của gia đình bà Kim Tuyên

Sư Tuệ sinh năm 1911, quê ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, nhưng sinh ra và lớn lên ở Nam Định. Sư Tuệ từng bị ngồi tù 18 tháng vì quyên tiền ủng hộ cuộc bãi công của công nhân nhà máy dệt Nam Định và lần thứ 2 ngồi tù 6 tháng vì tham gia biểu tình ở Nhà hát Lớn Hà Nội. Sau khi trốn khỏi nhà giam của thực dân Pháp, ông đi khắp Nam Định, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nội để xin việc làm nhưng không được. Sau đó, ông ra Vùng mỏ làm ở 12 mỏ khác nhau, mỗi nơi chỉ được một thời gian ngắn rồi bị sốt rét hành hạ phải bỏ việc. Ông xuống tóc đi tu và thành một sư bác vì thế nhân dân vẫn quen gọi ông là sư Tuệ. Theo lời kể của bà Nguyễn Kim Tuyên, con gái sư Tuệ, cha của bà đi tu không phải là vì trốn đời, mà vẫn nuôi chí đánh Tây cứu nước, cũng không phải giả danh nhà sư để hoạt động mà là đi tu thật. Chỉ có điều ông tận dụng vị trí của một nhà sư để truyền bá lý tưởng cách mạng.

Sau khi bắt mối liên lạc được với cơ sở Việt Minh, sư Tuệ trở lại Đông Triều, đến chùa Bắc Mã (một ngôi chùa cổ ở xã Bình Dương ngày nay) để hoạt động. Cái tên sư Tuệ gắn bó chặt chẽ với cái tên Chiến khu Đông Triều bắt đầu từ đó. Ở đây, ông đã dùng tài diễn thuyết để kêu gọi các tầng lớp nhân dân nhất là thanh niên tham gia Việt Minh chống Nhật cứu nước, chống phỉ và cứu đói cho dân. Các đội tự vệ được thành lập với vũ khí thô sơ tự tạo hoặc vũ khí do Nguyễn Bình mua sắm, đánh chiếm được. Ngay ở chùa Bắc Mã cũng có một trung đội tăng già cứu quốc, gồm nhiều nhà sư. Ngày 8-6-1945, quân cách mạng đã tiến công Đồn Cao và một số điểm khác ở Mạo Khê, Chí Linh… mở rộng căn cứ địa, làm bàn đạp để tổng khởi nghĩa, tiến về giải phóng tỉnh lỵ Quảng Yên vào ngày 21-8-1945, cũng như hỗ trợ để các địa phương khác như Hải Phòng, Hải Dương, Khu mỏ Hồng Gai, Cẩm Phả v.v.. cướp chính quyền. Những thắng lợi đó có đóng góp rất lớn của tướng Nguyễn Bình và sư Tuệ.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, sư Tuệ hoàn tục và được tổ chức tác thành cho kết hôn cùng cô y tá của Chiến khu Trần Hưng Đạo tên là Lê Thị Nhuần. Sau đó một thời gian, ông lên Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Ông mất năm 1997, được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Bà Kim Tuyên có kể rằng, trước khi cha bà nhắm mắt, ông dặn dò các con: “Sau khi cha mất, các con nhớ hoả táng, đưa cha về ở cùng các đồng đội ở Chiến khu Đông Triều. Thỉnh thoảng các con đi thăm các bạn chiến đấu của cha...”.

Không chỉ vào vai một nhà sư, một chiến sĩ cách mạng mà Nguyễn Văn Tuệ còn là một nhà thơ đích thực. Ông dùng thơ làm phương tiện và vũ khí vận động cách mạng nhưng cũng làm thơ để thoả nỗi lòng mình. Ông chính là nhà thơ mang bút danh Tú Sụn để kết bạn thân thiết với nhà thơ Tú Mỡ. Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, bà Nguyễn Kim Tuyên cho biết: “Ông có làm thơ từ năm 1935 cùng thời với Tú Mỡ nên lấy bút danh là Tú Sụn. Hiện nay, tôi đang tập hợp những sáng tác của ông để xuất bản 2 tập thơ, trong đó có một tập viết riêng về Quảng Ninh”. Bà Kim Tuyên cũng cho biết bà rất tự hào về người cha của mình. Bà đã từng viết một cuốn sách về ông lấy tên là “Cha tôi”. Hiện nay, sách đã được đến tay bạn đọc một cách rộng rãi.

HUỲNH ĐĂNG

.
.
.
.
.
.
.
.