Bảo tồn phát huy giá trị các di sản văn hoá: Những kết quả có sức đột phá

Thứ Năm, 11/08/2016, 12:29 [GMT+7]
.
.

Việc khôi phục, trùng tu, tôn tạo các di sản văn hoá trên địa bàn, xây dựng các danh hiệu văn hoá cùng các thiết chế chưa bao giờ mạnh mẽ như hiện nay. Với sự vào cuộc chủ động của người dân, chủ thể văn hoá cộng đồng và việc huy động nguồn lực của toàn xã hội cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản xây dựng các danh hiệu văn hoá cùng các thiết chế đã thu được nhiều kết quả tốt. Đây đều là những kết quả hết sức quan trọng khi Quảng Ninh thực hiện Nghị quyết 05-NQ/TU ngày 25-5-2011 của BTV Tỉnh uỷ về một số chủ trương, giải pháp phát triển sự nghiệp văn hoá, thể thao tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2011-2015.

Du khách hành hương về Ngoạ Vân mùa hội xuân 2016.
Du khách hành hương về Ngoạ Vân mùa hội xuân 2016.

Khởi sắc ở các khu di tích lớn

Với nỗ lực lớn, 5 năm qua ghi dấu thành tựu lớn của Quảng Ninh trong công tác lập hồ sơ đề nghị công nhận di tích khi có tới 3 khu di tích (KDT) được công nhận là di tích đặc biệt cấp quốc gia (gồm: KDT lịch sử - danh thắng Yên Tử, KDT lịch sử, văn hoá nhà Trần tại Đông Triều và KDT lịch sử Bạch Đằng), nâng tổng số di tích đặc biệt cấp quốc gia của tỉnh lên 4 di tích, cao hơn so với nhiều địa phương trong cả nước. Không chỉ vậy, nhằm nâng tầm giá trị di tích, tỉnh đã phối hợp với tỉnh Hải Dương và Bắc Giang triển khai lập hồ sơ đề cử Quần thể di tích nhà Trần và Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới.

Cũng với 3 KDT này, tỉnh cũng đã làm tốt công tác lập quy hoạch di tích và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể của cả 3 KDT. Không để quy hoạch chỉ nằm trên giấy, ngay sau đó, tỉnh đã tập trung chỉ đạo, phân cấp cụ thể cho các địa phương triển khai thực hiện các quy hoạch. Hiện nay, ở các địa phương có di tích là Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên có hàng chục dự án thành phần với tổng kinh phí hàng nghìn tỷ đồng đã và đang được thực hiện. Cụ thể như: Chùa Ngoạ Vân, đền Thái, chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều); chùa Một Mái, vườn Tháp, tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông, Trường quay phim cổ trang Việt Nam, Khu trung tâm lễ hội, miếu Cu Linh (Uông Bí); đình Yên Giang (Quảng Yên); tuyến đường hành hương nối KDT Yên Tử với Ngoạ Vân - Hồ Thiên; hệ thống cáp treo và công trình phụ trợ tại Ngoạ Vân - Hồ Thiên...

Đặc biệt, chủ trương xã hội hoá nguồn lực đầu tư tu bổ các di tích cũng như cơ sở hạ tầng, dịch vụ đã thu hút sự vào cuộc mạnh mẽ của các doanh nghiệp, đơn vị, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tạo diện mạo mới cho các KDT và cơ hội rộng mở cho phát triển du lịch văn hoá tâm linh của tỉnh. Như KDT Yên Tử hiện nay thu hút số lượng khách hành hương hàng năm lên tới cả triệu lượt. KDT nhà Trần tại Đông Triều từ chỗ không mấy người biết tới nay đã được quảng bá rộng rãi, các di tích bị “ngủ quên” trong lòng đất đã được khai quật khảo cổ, khẳng định giá trị, được các cá nhân, tổ chức chung tay công đức tu bổ, tôn tạo từng bước làm “sống lại” vùng di tích nhà Trần ở Quảng Ninh. Nhiều điểm di tích của KDT Bạch Đằng đã được đưa vào các tour tuyến du lịch, phục vụ lượng khách du lịch cả trong nước và quốc tế đến với Quảng Yên...

Nhiều điểm nhấn

Không chỉ khởi sắc ở các KDT lớn, công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích trong toàn tỉnh đã được quan tâm đầu tư tu bổ, tôn tạo từ nhiều nguồn vốn, như: Chương trình mục tiêu quốc gia, ngân sách của tỉnh, địa phương, xã hội hoá. Quá trình trùng tu, tôn tạo, những yếu tố gốc được coi trọng, đảm bảo hài hoà giữa yêu cầu giữ gìn giá trị gốc với chống xuống cấp di tích. Theo thống kê, trong 5 năm qua, 100% di tích cấp quốc gia, 70% di tích cấp tỉnh đã được tu bổ, tôn tạo và chống xuống cấp với tổng kinh phí hàng trăm tỷ đồng từ nguồn lực nhà nước và nguồn xã hội hoá, đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra. Đặc biệt, các di sản đã được đưa vào trở thành những điểm du lịch trong hệ thống tuyến, điểm du lịch của nhiều địa phương, như: Uông Bí, Quảng Yên, Bình Liêu, Đông Triều, Ba Chẽ, Móng Cái...

Có số lượng di tích rất lớn (hơn 600 di tích), vì vậy để phục vụ cho công tác quản lý tốt hơn, thời gian qua, tỉnh đã chỉ đạo ngành Văn hoá tổ chức tổng kiểm kê, rà soát toàn bộ di tích trên địa bàn. Qua đó, đưa khỏi danh mục các di tích không đủ tiêu chí, bổ sung các di tích mới phát hiện đủ tiêu chí là di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh vào danh mục để quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị. Ngày 26-3-2015, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 789 phê duyệt Danh mục di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh trên địa bàn. Cùng với đó, công tác kiểm kê và lập hồ sơ khoa học di sản văn hoá phi vật thể cũng đã tiến hành ở cả 7/7 loại hình (gồm lễ hội truyền thống, ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian, tập quán xã hội, tiếng nói, chữ viết, tri thức dân gian và nghề thủ công truyền thống). Đến nay, Quảng Ninh đã có 2 di sản được đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, đó là di sản “Hát nhà tơ - hát, múa cửa đình” và “Then nghi lễ”; đồng thời, hoàn thành lập hồ sơ khoa học Then, Tày huyện Bình Liêu đề nghị UNESCO công nhận di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

Quảng Ninh cũng là tỉnh giàu có về di sản lễ hội, đặc biệt là lễ hội mùa xuân. Với nhiều giải pháp cụ thể, hiệu quả, trong đó có việc phân cấp cho chính quyền địa phương, thời gian qua, công tác quản lý và tổ chức lễ hội của tỉnh đã đi vào nền nếp, trở thành điểm sáng trong top đầu cả nước. Nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian trong lễ hội được phục dựng và phát huy; hoạt động lễ hội gắn với du lịch mang lại những hiệu quả đáng khích lệ, thu hút đông đảo du khách, góp phần phát triển văn hoá của các địa phương. Một số lễ hội mới, khai thác nét văn hoá truyền thống của các dân tộc như: Carnaval - Hạ Long, Lễ hội hoa Anh đào đã trở thành thương hiệu và sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh...

Phan Hằng

.
.
.
.
.
.
.
.