.

 

 

Chất vấn tại hội trường: Nhiều câu hỏi và trả lời, không ngại tranh luận để làm rõ

 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 21, HĐND tỉnh khoá XIII, chiều 8/12, diễn ra phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại hội trường. Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh, điều hành phiên chất vấn.

a
Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh, điều hành phiên chất vấn.

Tại phiên chất vấn,  có 10 đại biểu đăng ký chất vấn với 11 vấn đề, liên quan đến 6 sở, ngành của tỉnh. Căn cứ vào các nội dung đại biểu đăng ký và vấn đề cử tri quan tâm, phiên chất vấn sẽ tập trung vào 4 nhóm vấn đề chính gồm: Quản lý GD&ĐT, đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Quản lý rừng đầu nguồn, đảm bảo an ninh nguồn nước; Đầu tư, quản lý khoáng sản; Giải pháp trong phòng, chống đại dịch Covid-19.

Đồng chí Nguyễn Xuân Ký nhấn mạnh, phiên chất vấn sẽ trên tinh thần hỏi nhanh, gọn – đáp thẳng, đi thẳng vào vấn đề. Đại biểu dành thời gian để có nhiều câu hỏi và câu trả lời, không ngại tranh luận để làm rõ, đi đến cùng vấn đề.

--------------------------------------------------------***-------------------------------------------------------

 

CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO, HIỆU QUẢ CHỐNG “GIẶC” COVID-19

 

* Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh: Gắn trách nhiệm người đứng đầu các cấp ngành, địa phương để đảm bảo giữ vững địa bàn an toàn, hấp dẫn, tạo đà cho tăng trưởng

Kết luận nội dung chất vấn và trả lời chất vấn nội dung liên quan đến công tác phòng, chống dịch Covid-19, đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh ghi nhận, biểu dương công lao đóng góp và sự nỗ lực vượt bậc của các cấp, ngành, hệ thống chính trị toàn tỉnh, LLVT, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân các dân tộc tỉnh trong năm 2020. Đây là điều kiện tiên quyết để Quảng Ninh hoàn thành "mục tiêu kép" vừa phòng chống dịch, vừa phát triển KT-XH. Trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn thách thức, trên địa bàn tỉnh chưa có bất kỳ người dân nào bị nhiễm Covid-19; tỉnh cũng chuẩn bị tốt và tổ chức thành công đại hội Đảng bộ các cấp; sản xuất - kinh doanh nhanh chóng phục hồi lấy lại đà tăng trưởng, mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt 2 con số.

a
Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh.

Năm 2021, tình hình dịch Covid-19 còn nhiều diễn biến phức tạp. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, nhấn mạnh: Những bài học kinh nghiệm được đúc rút từ năm 2020 có ý nghĩa quan trọng cho cả năm 2021. Trong đó, điểm mấu chốt phụ thuộc vào nhận thức thái độ, hành vi của mỗi người dân, mỗi cơ quan doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế... không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, tuân thủ nghiêm túc quy trình phòng, chống dịch. 

Quảng Ninh là địa bàn tiềm ẩn yếu tố ca bệnh xâm nhập từ bên ngoài rất lớn. Do đó, đề nghị: Ngành Y tế tiếp tục phối hợp tăng cường kiểm soát tình hình nhập cảnh từ bên ngoài vào địa bàn; tăng cường kiểm soát cơ sở cách ly, kiên quyết xử lý vi phạm, công khai các cơ sở vi phạm như: Các cơ sở tổ chức cách ly, cơ sở lưu trú kinh doanh dịch vụ, cơ sở y tế tư nhân. Sở Y tế cần phải giám sát, xử lý nghiêm các cơ sở y tế công lập trong thực hiện quy trình phòng chống dịch, nhất định không để xảy ra các tình huống rủi ro. Bên cạnh đó, kiểm soát chặt toàn bộ tuyến biên giới trên bộ, trên biển đặc biệt là trong dịp cuối năm, dịp Tết Nguyên đán 2021 đảm bảo không có trường hợp nhập cảnh, vượt biên trái phép; tăng cường truyền thông, nâng cao ý thức, cảnh giác cho người dân.

Đồng chí yêu cầu: Phải tăng cường cập nhật thông tin trên bản đồ quốc gia chung sống an toàn với dịch Covid-19. Đặc biệt, gắn trách nhiệm người đứng đầu các cấp ngành, địa phương để đảm bảo giữ vững địa bàn an toàn, hấp dẫn, tạo đà cho tăng trưởng.

 

 

- Ở nhóm nội dung liên quan đến công tác phòng, chống dịch Covid-19, đại biểu Đặng Văn Tuấn, Tổ đại biểu Đầm Hà chất vấn Giám đốc Sở Y Tế: Theo báo cáo của UBND tỉnh cho thấy còn một số tồn tại hạn chế trong công tác phòng, chống dịch Covid-19, trong đó có tâm lý lơ là, chủ quan, mất cảnh giác trong một số cơ quan, đơn vị và một bộ phận người dân. Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 tiếp tục có những diễn biến phức tạp khó lường, với vai trò là cơ quan thường trực trong công tác tham mưu cho tỉnh về chỉ đạo phòng, chống Covid-19, đề nghị đồng chí Giám đốc Sở Y tế làm rõ nguyên nhân, những vấn đề cần quan tâm và giải pháp để làm tốt hơn công tác phòng, chống dịch, đảm bảo an toàn cho người dân.

Đại biểu Đặng Văn Tuấn, Tổ đại biểu Đầm Hà.
Đại biểu Đặng Văn Tuấn, Tổ đại biểu Đầm Hà.

Đối với chất vấn của đồng chí Đặng Văn Tuấn, Tổ đại biểu Đầm Hà, đồng chí Nguyễn Trọng Diện, Giám đốc Sở Y tế khẳng định: Trước tiên phải nói đến thành tựu trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 của tỉnh với sự linh hoạt, sáng tạo, chủ động trong công tác chỉ đạo, điều hành, nhận diện sớm nguy cơ xâm nhiễm của dịch bệnh, có biện pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả theo phương châm “3 trước, 4 tại chỗ”. Theo đó, Quảng Ninh là đơn vị tuyến tỉnh đầu tiên trong cả nước có thể xét nghiệm Covid-19. Đến nay, toàn tỉnh đã có 5 đơn vị tự xét nghiệm Covid-19 và có khả năng thực hiện lên tới 5.000 mẫu xét nghiệm/ngày đêm. Trong 70.000 mẫu xét nghiệm, chúng ta đã xét nghiệm được 21 mẫu dương tính với Covid-19 “nhập khẩu” từ nước ngoài, từ đó tỉnh đã chủ động khoanh vùng, dập dịch, đảm bảo Quảng Ninh không có ca lây nhiễm trong cộng đồng. Đồng thời, khẳng định được thế chủ động của tỉnh, tạo môi trường an toàn cho tỉnh trong việc thực hiện tốt “mục tiêu kép”. Trước những kết quả ấn tượng của tỉnh, BCĐ phòng chống dịch quốc gia đã lấy Quảng Ninh làm điểm, tính đến ngày 28/11, Quảng Ninh xếp thứ 3 toàn quốc về chỉ số mức độ an toàn với Covid-19.

Đồng chí Nguyễn Trọng Diện, Giám đốc Sở Y tế, trả lời chất vấn.
Đồng chí Nguyễn Trọng Diện, Giám đốc Sở Y tế, trả lời chất vấn.

Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng hiện vẫn còn một bộ phận người dân, đơn vị lơ là với công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Trong khi Quảng Ninh là địa phương có nhiều đường mòn, lối mở, cửa khẩu giao thương cả trên đường bộ, đường biển. Đặc biệt là Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn đang gánh trọng trách quốc gia giao phó để đón các chuyên gia nước ngoài, công dân Việt Nam về nước. Bên cạnh đó, tỉnh cũng là địa điểm thu hút lớn khách du lịch nên hiện Quảng Ninh vẫn tiềm ẩn không ít nguy cơ lây nhiễm Covid-19 trong cộng đồng. Vì vậy, chúng ta cần phải tiếp tục thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ, tỉnh trong công tác phòng, chống dịch. Từ đó, từng sở, ngành, địa phương phải rà soát để có những giải pháp phù hợp hơn trong tình hình mới như: Tăng cường công tác thanh kiểm tra các địa điểm có nguy cơ cao; công khai danh sách các đơn vị không đảm bảo an toàn theo quy định phòng, chống dịch, rút giấy phép kinh doanh đối với đơn vị lưu trú vi phạm quy định phòng, chống dịch; tổ chức phân luồng tại các cơ sở y tế.

Đối với ngành Du lịch, Giáo dục sẽ phải tăng cường kiểm tra giám sát để hoàn thiện việc đánh giá bản đồ an toàn. Các địa phương tăng cường công tác truyền thông để đưa thông điệp “5K” đến với người dân sâu sắc hơn nữa, cũng như nêu các tấm gương điển hình, các hành vi vi phạm trong công tác phòng chống dịch. Riêng ngành Y tế, sẽ tăng cường hệ thống y tế để đảm bảo giải quyết các cấp độ của dịch xảy ra trên địa bàn.

 

- Đại biểu Nguyễn Thu Trang, Tổ đại biểu Cẩm Phả chất vấn Giám đốc Sở Y tế về công tác phối hợp của Sở Y tế với Bộ CHQS tỉnh trong tiếp nhận công dân trên các chuyến bay quốc tế trở về Việt Nam và thực hiện tổ chức cách ly tại các đơn vị do Bộ CHQS tỉnh đảm nhận. Những khó khăn, bất cập và giải pháp để thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

Đại biểu Nguyễn Thu Trang, Tổ đại biểu Cẩm Phả, chất vấn Giám đốc Sở Y tế.
Đại biểu Nguyễn Thu Trang, Tổ đại biểu Cẩm Phả, chất vấn Giám đốc Sở Y tế

+ Trả lời chất vấn của đại biểu Nguyễn Thu Trang, đồng chí Nguyễn Trọng Diện, Giám đốc Sở Y tế, khẳng định: Trong thời gian vừa qua, các đơn vị Y tế, Quân đội, Công an, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn đã phối hợp chặt chẽ trong công tác đón công dân Việt Nam và chuyên gia, lao động tay nghề cao người nước ngoài từ các quốc gia có dịch về nước qua Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đảm bảo đúng quy trình, quy định, tuyệt đối an toàn, không để xảy ra rủi ro. Đồng thời, phối hợp rà soát các trường hợp liên quan đến các vùng có dịch và những trường hợp tiếp xúc gần với người nhiễm hoặc nghi nhiễm để giám sát, đưa vào cách ly tập trung, tổ chức tiếp nhận, lấy mẫu xét nghiệm tất cả các trường hợp từ/đi qua vùng dịch.

Tính đến nay, tại Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn đã đón tổng số trên 33.000 người, trong đó gần 12.000 người nước ngoài,  gần 21.000 người Việt Nam về Việt Nam an toàn và đảm bảo đúng quy trình.

Đồng chí Giám đốc Sở Y tế, cho biết thêm: Với chức năng, nhiệm vụ được giao trong công tác phòng chống dịch Covid-19, Bộ CHQS tỉnh đã thực hiện nghiêm kỷ luật quân đội phối hợp với ngành y tế thực hiện đúng quy trình trong công tác vận chuyển và đưa công dân nhập cảnh về cách ly tại các cơ sở quân đội, đảm bảo an toàn tuyết đối, không kể ngày hay đêm và đưa ra giải pháp kịp thời xử lý tình huống bất ngờ xảy ra.

Cùng với đó, đồng chí lãnh đạo Sở cũng đã chỉ rõ vấn đề khó khăn trong quá trình vận chuyển công dân nhập cảnh từ vùng dịch về cơ sở cách ly. Đó là: Vấn đề thay đổi chỗ ở của các công dân nhập cảnh về khu cách ly dẫn đến khó khăn trong quá trình điều chuyển lịch trình, phương tiện đưa đón của lực lượng quân đội. Không những vậy, hiện nay trong số 33.000 người nhập cảnh tại Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn thì có khoảng 16.000 công dân ở địa bàn tỉnh Quảng Ninh, còn lại là công dân ở các tỉnh khác. Điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển công dân về khu cách ly.

Do đó, đồng chí Giám đốc Sở cũng mong muốn các hãng hàng không cũng như các đơn vị truyền thông, báo chí cần đẩy mạnh thông tin đến các công dân nắm bắt được giá dịch vụ tại các cơ sở cách ly để đảm bảo an toàn cũng như phù hợp với nhu cầu của mỗi công dân. Thời gian tới, ngành sẽ phối hợp với các đơn vị đề xuất giải pháp hữu hiệu trong công tác chuyển công dân nhập cảnh về khu cách ly trên các tuyến đường xa.

 

- Đại biểu Trần Thị Thiêm, Tổ đại biểu huyện Hải Hà, chất vấn: Mặc dù tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác kiểm soát phòng chống, dịch bệnh Covid-19 từ biên giới, song tình trạng xuất nhập cảnh trái phép vẫn còn diễn ra, đã phải xử lý một số đối tượng. Đại biểu đề nghị đồng chí Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh cho biết những khó khăn, bất cập và các giải pháp của lực lượng biên phòng trong việc kiểm soát, ngăn chặn nguy cơ nhập cảnh trái phép qua biên giới bằng các đường mòn, lối mở trên đất liền và trên biển để làm tốt công tác chống dịch.

Đại biểu Trần Thị Thiêm, Tổ đại biểu huyện Hải Hà.
Đại biểu Trần Thị Thiêm, Tổ đại biểu huyện Hải Hà.

+ Trả lời nội dung này, Đại tá Đặng Toàn Quân, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh nhấn mạnh Quảng Ninh có đường biên giới trên bộ dài hơn 118km và 191km đường biên giới trên biển tiếp giáp với Trung Quốc. Trên tuyến biên giới của tỉnh còn có nhiều đường mòn, lối mở, trong khi đó phương tiện, lực lượng bộ đội biên phòng lại mỏng, nên công tác đấu tranh ngăn chặn tình trạng xuất nhập cảnh trái phép thời gian qua gặp không ít khó khăn.

Đặc biệt, thời gian gần đây, tình trạng công dân Việt Nam xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc lao động vẫn còn xảy ra. Tình trạng này đang gây ra nhiều khó khăn cho các lực lượng biên phòng trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới gắn với phòng, chống dịch Covid-19.

Đại tá Đặng Toàn Quân, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, trả lời chất vấn.
Đại tá Đặng Toàn Quân, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, trả lời chất vấn.

Để bảo vệ biên giới, ngăn chặn hoạt động xuất nhập cảnh trái phép, không cho dịch Covid-19 xâm nhập vào địa bàn, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các hướng dẫn, chỉ đạo của cấp trên về công tác phòng, chống. BĐBP tỉnh đã sớm thành lập 92 chốt cố định và 7 tổ cơ động với hàng trăm cán bộ chiến sĩ thường xuyên ứng trực 24/24 giờ trên các tuyến biên giới trọng điểm của tỉnh. Qua đó, đã kịp thời đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm buôn lậu, xuất nhập cảnh, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới, góp phần ngăn chặn dịch Covid-19 lây lan vào địa bàn.

Đơn vị cũng sẽ tăng cường phối hợp với các lực lượng chức năng liên quan tuần tra, kiểm soát chặt chẽ tại các khu vực đường mòn, lối mở và khu vực cửa khẩu để kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi xuất nhập cảnh trái phép. Thực hiện tốt việc trao đổi, thông báo với các lực lượng chức năng Trung Quốc và trong nước về tình hình xuất nhập cảnh, quản lý khu vực biên giới. Đồng thời, tích cực tuyên truyền cho nhân dân khu vực biên giới nắm được chủ trương của Đảng, Nhà nước, các cấp về công tác phòng, chống dịch bệnh, để nhân dân yên tâm phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, nhất là không được có tâm lý chủ quan trước những diễn biến của dịch bệnh.

 

- Đại biểu Lài Thị Hiền, Tổ đại biểu Bình Liêu đề nghị Chủ tịch UBND TP Móng Cái  cho biết về công tác phối hợp giữa UBND thành phố với các lực lượng chức năng trong công tác phòng, chống dịch COVID-19, nhất là công tác kiểm soát xuất nhập khẩu qua cửa khẩu và biên giới, ngăn chặn việc xuất nhập cảnh trái phép, nhằm kiểm soát tốt bệnh dịch; những khó khăn, bất cập và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống dịch.

Đại biểu Lài Thị Hiền, Tổ đại biểu Bình Liêu.
Đại biểu Lài Thị Hiền, Tổ đại biểu Bình Liêu.

+ Về nội dung này, đồng chí Hồ Quang Huy, Chủ tịch UBND TP Móng Cái, cho biết: Móng Cái là “tuyến đầu của tuyến đầu” trong công tác phòng, chống đại dịch COVID-19, xác định được tầm quan trọng đó, ngay từ những ngày đầu đại dịch bùng phát, Móng Cái đã ngay lập tức triển khai các biện pháp phòng, chống dịch, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, quyết tâm thực hiện “mục tiêu kép” của Chính phủ. Thực hiện chỉ đạo của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, thành phố đã nhanh chóng thành lập Ban Chỉ đạo phòng chống dịch do đồng chí Bí thư Thành ủy trực tiếp làm Trưởng Ban. Đồng thời thiết lập 3 phòng tuyến chống dịch, gồm: Tuyến biên giới do lực lượng biên phòng là nòng cốt; tuyến bên trong là lực lượng liên ngành, chủ chốt là lực lượng quân sự; tuyến chốt chặn, kiểm soát ra vào thành phố tại Km15.

Chủ tịch UBND TP Móng Cái Hồ Quang Huy trả lời chất vấn.
Chủ tịch UBND TP Móng Cái Hồ Quang Huy trả lời chất vấn.

Hiện nay, trên toàn địa bàn thành phố vẫn đang duy trì hoạt động của 48 chốt biên phòng, 2 chốt liên ngành tại phường Hải Yên và xã Bắc Sơn (340 người tham gia), kiểm soát 24/24h, ngăn chặn xuất nhập cảnh trái phép qua biên giới qua các đường mòn lối mở; duy trì 105 tổ tự quản tại các khu dân cư, tuyệt đối không hề có tâm lý lơ là chủ quan trong phòng, chống dịch.

Đồng chí Chủ tịch UBND TP Móng Cái cũng cho biết thêm, tại các cửa khẩu, lối mở song phương, thành phố đã xây dựng, triển khai chặt chẽ phương án phòng chống dịch qua biên giới, đảm bảo loại trừ nguy cơ lây nhiễm ngay từ cửa ngõ và sẵn sàng cả kịch bản ứng phó nếu phát hiện có ca dương tính tại cửa khẩu mà không làm gián đoạn hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh. Trong đó tập trung vào một số biện pháp, như: Kiểm soát chặt chẽ lái xe Trung Quốc trung chuyển hàng hóa nhập cảnh và lái xe trung chuyển từ thành phố xuất cảnh; theo dõi tình trạng sức khỏe của công nhân; thường xuyên khử trùng bãi kiểm hàng hóa và phương tiện nhập cảnh.

Đồng thời, thành phố cũng nỗ lực kiểm soát và cách ly công dân nhập cảnh về nước, các trường hợp phía bạn trao trả, chuyên gia nước ngoài nhập cảnh theo phê chuẩn của cơ quan có thẩm quyền; xây dựng quy trình cách ly chặt chẽ; chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất các điểm cách ly...

Thành phố cũng công khai đường dây nóng tiếp nhận thông tin phản ánh; thông báo công khai số điện thoại Ban Chỉ đạo Phòng chống dịch thành phố; tiếp nhận thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng... để kịp thời xử lý, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống phát sinh, không để bị động, bất ngờ, đảm bảo nguyên tắc “5 không, 4 trước, 3 tại chỗ” trên địa bàn.

Tuy nhiên, trong suốt thời gian triển khai tích cực công tác phòng, chống dịch, TP Móng Cái cũng đang phải đối mặt với một số khó khăn. Cụ thể như việc người nhập cảnh có hoàn cảnh khó khăn, không đủ khả năng chi trả chi phí cách ly, xét nghiệm, hiện thành phố đã và đang xã hội hóa nhưng cần cơ chế lâu dài cho vấn đề này. Việc bố trí vật tư y tế, trang thiết bị phòng chống dịch cho các cơ quan, đơn vị chức năng để đáp ứng được yêu cầu cao của công tác quan trọng này. Cùng với đó là việc hỗ trợ doanh nghiệp trong quy trình xét nghiệm COVID-19 trên bao bì hàng hóa đông lạnh nhập khẩu...

 

+ Liên quan đến lĩnh vực phòng, chống dịch Covid-19, đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, làm rõ thêm: Qua công tác phòng, chống dịch, Quảng Ninh được Trung ương đánh giá là địa phương tích cực triển khai các giải pháp hiệu quả và ngăn chặn được dịch bệnh lây lan trong cộng đồng. Tuy nhiên, hiện nay tỉnh Quảng Ninh đang gặp nhiều thách thức trong việc giữ vững địa bàn an toàn, đến từ những nguy cơ lây lan dịch bệnh bên ngoài và bên trong.

Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, phát biểu tại phiên chất vấn.
Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, phát biểu tại phiên chất vấn.

Nguy cơ từ bên ngoài được xác định là, lượng khách du lịch đến địa bàn; lượng phương tiện vận tải, hàng hóa đi và đến địa bàn; địa bàn biên giới rộng, dài… Nguy cơ đến từ bên trong chính là tâm lý chủ quan, lơ là, thỏa mãn của một bộ phận người dân trong công tác phòng, chống dịch.

Năm 2021, tỉnh Quảng Ninh đặt ra yêu cầu giữ nguyên thành quả đã đạt được, trên tinh thần kỷ luật và đồng tâm. Do vậy, các địa phương, sở, ngành, mà trực tiếp là đồng chí bí thư cấp ủy, chủ tịch UBND các địa phương, thủ trưởng các sở, ngành cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thật tốt các biện pháp phòng, chống dịch; người dân phải thấu hiểu tham gia, nâng cao vai trò cảnh giác, tuyệt đối không chủ quan, lơ là, phải bảo vệ sức khỏe cho cá nhân, gia đình mình thông qua vệ sinh cá nhân hàng ngày, đeo khẩu trang, thực hiện sát khuẩn theo đúng quy định của cơ quan y tế.

Các cơ sở y tế, trường học, cơ sở lưu trú phải cập nhật trên bản đồ số về an toàn; các cơ sở cách ly được lắp đặt các camera giám sát chặt chẽ đối với người thực hiện cách ly. Các ngành chức năng sẽ tăng cường kiểm tra các cơ sở, cá nhân không đảm bảo an toàn trong phòng, chống dịch và sẽ xử lý nghiêm khắc đối với những tổ chức, cá nhân vi phạm; tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát đối với hoạt động thương mại, biên mậu, nhập cảnh qua biên giới.

Từ 1/1/2021, tỉnh sẽ vận hành quy định, quy chế vận hành mới trong thực hiện cách ly, đón tiếp người từ vùng dịch trở về nước, đồng thời tiếp tục thực hiện công tác khám, sàng lọc các loại bệnh nền trong toàn dân, qua đó có biện pháp phòng, chống dịch hiệu quả, tạo điều kiện để tỉnh thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển KT-XH năm 2021 đã được đề ra.

 

--------------------------------------------------------***-------------------------------------------------------

 

"NÓNG" VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM AN NINH NGUỒN NƯỚC, QUẢN LÝ RỪNG ĐẦU NGUỒN

 

* Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh: Mỗi người dân phải có trách nhiệm sử dụng nguồn nước hợp lý

Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, kết luận nội dung chất vấn liên quan đến tài nguyên rừng và nước.
Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, kết luận nội dung chất vấn liên quan đến tài nguyên rừng và nước.

Kết luận nội dung chất vấn và trả lời chất vấn nội dung liên quan đến tài nguyên rừng, tài nguyên nước, đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh cho rằng chất lượng hiện nay bị tác động do tỷ lệ trồng keo lớn. Đây là nguyên nhân làm thay đổi chu trình thủy văn tại nhiều hồ đập và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các nguồn nước tại các hồ chứa nước. Do đó rất đồng tình với ý kiến phát biểu của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là cần có quan trắc các hồ nước phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất.

Hiện tỉnh đã có Nghị quyết 19 về phát triển lâm nghiệp bền vững. Tới đây tỉnh sẽ có xây dựng chính sách để khuyến khích người dân chuyển sang trồng rừng gỗ lớn đảm bảo nguồn sinh thủy lâu dài, bền vững. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần tham mưu tích cực sớm trình HĐND tỉnh về nội dung này.

Về an ninh nguồn nước, phải xét đến nguồn nước ở các hồ đập, sông suối, nước ở các ao, thủy vực có khả năng trữ nước. Đặc biệt cũng phải lưu ý đến việc mỗi năm ngành than thải ra môi trường 120 triệu m3 nước thải đã qua xử lý. Nếu dùng công nghệ xử lý tốt thì đây nguồn rất quý. Do đó phải tính toán kỹ có phương án.

Đối với nước liên quan đến lưu vực sông mà tỉnh ta đang thụ hưởng, tỉnh đang có nhiều con sông có lượng nước có thể sử dụng được, nhất là ở địa bàn TX Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên thì cần có giải pháp phối hợp với các địa phương đảm bảo không ô nhiễm.

Riêng về nước ngầm hiện nay, theo quy hoạch về tài nguyên nước cần phải đánh giá lại thay đổi biến động. Người dân có thói quen khoan giếng, đào giếng, hoạt động này vừa không đáp ứng được yêu cầu kiểm soát biến động của nước ngầm, vừa không đảm bảo chất lượng sinh hoạt của người dân. Vì vậy đề nghị Công ty CP nước sạch Quảng Ninh phải lập đề án báo cáo tỉnh và mạnh dạn đầu tư công trình nước sạch để phục vụ cho sự phát triển của tỉnh.

Về vấn đề liên quan đến kiểm soát ô nhiễm của các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt nhất là ở các khu đô thị mới, vấn đề này liên quan đến trách nhiệm quản lý của các cơ quan liên quan, đặc biệt là cảnh sát môi trường cần vào cuộc tích cực trong việc kiểm tra, kiểm soát vấn đề này.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, yêu cầu phải có chế tài cùng với đó có biện pháp tuyên truyền người dân sử dụng nguồn nước hiệu quả. Vấn đề an ninh nguồn nước phải xử lý trên 4 vấn đề: Phát triển nguồn nước; bảo vệ nguồn nước để không ô nhiễm; quản lý sử dụng hiệu quả nguồn nước; xử lý vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu. 4 nội dung này đảm bảo quản lý tổng hợp.

 

 

- Đại biểu Lưu Văn Thường, Tổ đại biểu Hải Hà, chất vấn đồng chí Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Trước tình hình biến đổi khí hậu đã làm nhiều tỉnh miền Trung xảy ra lũ lụt trong thời gian vừa qua, gây thiệt hại lớn và ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Đây là hiện tượng cảnh báo lớn về công tác quản lý, bảo vệ rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ. Quảng Ninh hiện nay có khoảng gần 10.000ha rừng phòng hộ đầu nguồn tập trung ở các địa phương: Hạ Long, Cẩm Phả, Ba Chẽ, Hải Hà, Móng Cái… Đề nghị đồng chí Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết tình hình quản lý và các giải pháp bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn để đảm bảo an ninh nguồn nước, phục vụ sinh hoạt, sản xuất trên địa bàn tỉnh?

Đại biểu Lưu Văn Thường, Tổ đại biểu Hải Hà, chất vấn đồng chí Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đại biểu Lưu Văn Thường, Tổ đại biểu Hải Hà, chất vấn đồng chí Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Đại biểu Trần Văn Thiêm, Tổ đại biểu Vân Đồn, chất vấn Giám đốc Sở NN&PTNT: Hiện nay sản lượng nhuyễn thể trên địa bàn tỉnh lên tới hàng trăm nghìn tấn/năm. Tuy nhiên, vấn đề cấp bách hiện nay là chất lượng con giống đã được đề cập đến tại các kỳ họp HĐND trước. Đến nay vấn đề này vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Trách nhiệm của Sở như thế nào, các giải pháp của Sở trong thời gian tới?

Đại biểu Trần Văn Thiêm, Tổ đại biểu Vân Đồn.
Đại biểu Trần Văn Thiêm, Tổ đại biểu Vân Đồn.

Đại biểu Sẻn Thị Hỷ, Tổ đại biểu Móng Cái, đề nghị Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết rõ về giải pháp trong quản lý an toàn đối với các công trình thủy lợi, hồ, đập chứa nước ở một số địa bàn trọng điểm như Móng Cái, Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên…, đảm bảo nguồn nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ sinh hoạt cho người dân.

Đại biểu Sẻn Thị Hỷ.
Đại biểu Sẻn Thị Hỷ.

 

+ Trả lời chất vấn của đại biểu Lưu Văn Thường, Giám đốc sở NN&PTNT Nguyễn Văn Công cho biết: Hiện tổng diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp là gần 423.000ha (chiếm 70,61% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh); tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 là 55% (tăng 0,2% so với năm 2019, tăng 8,8% so với năm 2010). Đưa Quảng Ninh là một trong các tỉnh có độ che phủ rừng cao, đứng thứ 12 trong toàn quốc (cao hơn 13% so với độ che phủ rừng toàn quốc).

Giám đốc sở NN&PTNT Nguyễn Văn Công trả lời chất vấn.
Giám đốc Sở NN&PTNT Nguyễn Văn Công trả lời chất vấn.

Để duy trì diện tích, độ che phủ rừng, thời gian qua, ngành đã tham mưu cho tỉnh về công tác điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Trong đó đã điều chỉnh gần 9.277ha rừng sản xuất sang rừng phòng hộ để quản lý, bảo vệ theo quy chế rừng phòng hộ góp phần bảo vệ môi trường, tạo nguồn sinh thủy cho các hồ, đập trên địa bàn tỉnh. Giai đoạn 2016-2020, ngành cũng đã tích cực thực hiện khoán bảo vệ rừng phòng hộ theo Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững, diện tích khoán tăng đều qua các năm đặc biệt là các diện tích rừng ở các vị trí phòng hộ xung yếu, rừng tự nhiên. Năm 2020, diện tích rừng phòng hộ được cấp kinh phí khoán bảo vệ là 44.527ha/102.806,2ha diện tích có rừng phòng hộ; giai đoạn 2014 đến nay đã trồng được 1.908,71ha rừng phòng hộ. Bên cạnh đó, một số đơn vị đã thành lập lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng để tăng cường công tác trực, tuần tra, kiểm soát phát hiện vi phạm và xây dựng, triển khai quy chế phối hợp giữa các đơn vị trên địa bàn trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Trong 3 năm, từ năm 2018 - 2020 các lực lượng chức năng đã lập biên bản xử lý 430 vụ, trong đó: xử lý hình sự 8 vụ, xử lý hành chính 422 vụ.

Để tiếp tục làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, thời gian tới, ngành NN&PTNT sẽ phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, địa phương để thực hiện tốt Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 28/11/2019 của BTV Tỉnh ủy về phát triển lâm nghiệp bền vững đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Trong đó sẽ tập trung hoàn thành thực hiện Đề án chuyển loại rừng với tổng diện tích rừng sẽ chuyển đổi từ rừng sản xuất sang rừng phòng hộ là 17.119ha. Đồng thời, căn cứ vào nguồn lực từ ngân sách tỉnh, Sở NN&PTNT cũng đã tham mưu cho UBND tỉnh trong giai đoạn 2021-2025 ưu tiên triển khai cho những vị trí thuộc lưu vực các lòng hồ trọng điểm đã xây dựng, tích nước cung cấp nước sinh hoạt, nước sản xuất tại 7 địa phương với tổng diện tích là 4.217ha; tăng cường kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, giám sát việc chuyển mục đích sử dụng rừng và đất có rừng tự nhiên phòng hộ đầu nguồn sang mục đích khác; thực hiện khoán bảo vệ rừng, đặc biệt là các diện tích rừng tự nhiên ở vị trí cao, xa tiềm ẩn nguy cơ bị xâm hại; bảo vệ và phục hồi hiệu quả tối đa diện tích rừng tự nhiên; xây dựng danh mục các loài cây trồng phù hợp với chức năng phòng hộ của rừng; hoàn thành xây dựng phương án quản lý rừng bền vững đối với các chủ rừng là tổ chức.

+ Trả lời Đại biểu Sẻn Thị Hỷ, Tổ đại biểu Móng Cái về vấn đề quản lý an toàn hồ đập đối với các công trình thủy lợi, hồ, đập chứa nước ở một số địa bàn trọng điểm như Móng Cái, Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên….  Giám đốc Sở NN&PTNT Nguyễn Văn Công, cho biết: Hiện nay tổng số hồ chứa nước trên địa bàn tỉnh là 180 hồ, với dung tích là 359 triệu m3. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 3 mô hình tổ chức quản lý, khai thác các công trình thủy lợi. Trong đó, có 48 hồ đập lớn và vừa do các Công ty TNHH 1TV Thủy lợi quản lý; các Trung tâm Quản lý Thủy nông do UBND các địa phương quản lý; các HTX Dịch vụ nông nghiệp trực tiếp quản lý các công trình thủy lợi nhỏ bao gồm 135 đập, hồ chứa nước.

Hàng năm, trước và sau mùa mưa bão, tỉnh đều thành lập các đoàn kiểm tra công trình thủy lợi do Sở NN&PTNT chủ trì phối hợp với UBND các địa phương và các chủ sở hữu đập và chủ quản lý, khai thác đập, hồ chứa nước tiến hành kiểm tra rà soát hiện trạng các công trình hồ chứa nước trên địa bàn. Qua đó đã kịp thời sửa chữa nâng cấp bảo đảm an toàn, đặc biệt các hồ chứa nước lớn trên địa bàn tỉnh.

Hiện Sở đang tiếp tục tiến hành kiểm tra, rà soát lập danh mục các đập, hồ chứa nước hư hỏng, xuống cấp để báo cáo UBND tỉnh, Bộ NN&PTNT cân đối đề xuất nguồn vốn trong kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 để xử lý đập, hồ chứa thủy lợi xung yếu, cấp bách; và thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an toàn đập, hồ chứa thủy lợi. Bên cạnh đó, đơn vị cũng đang rà soát, thống kê các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác quản lý an toàn đập; ứng dụng công nghệ 4.0 để tăng cường công tác quan trắc, giám sát vận hành các đập, hồ chứa; đánh giá lại khả năng xả lũ có xét đến biến đổi khí hậu và phù hợp với tiêu chuẩn hiện hành, từng bước nâng mức đảm bảo theo tiêu chuẩn quốc tế cho hồ chứa lớn; tuyên truyền sâu rộng cho các đối tượng quản lý, quần chúng nhân dân vùng hưởng lợi nắm được tầm quan trọng của công tác bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước; quản lý tốt công tác đặt hàng khai thác vận hành công trình thủy lợi, trong đó tập trung duy tu, bảo dưỡng tài sản là kết cấu hạ tầng thủy lợi; sử dụng hiệu quả, đa mục tiêu đối với các hồ chứa nước.

+ Trả lời chất vấn của đại biểu Trần Văn Thiên, đồng chí Nguyễn Văn Công, Giám đốc Sở NN&PTNT đã nêu rõ: Về nguồn gốc giống Hàu Thái Bình Dương, hiện nay chủ yếu người nuôi Hàu mua giống ở tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình khoảng 85%, Quảng Ninh là 15% thông qua các chủ buôn là người Vân Đồn đồng thời cũng là chủ cơ sở nuôi thương phẩm. Đối với giống hàu được xuất từ các trại sản xuất tại Quảng Ninh được cấp chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất, con giống có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Tuy nhiên đối với giống hàu từ các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Trung Quốc hầu như chưa được kiểm soát về chất lượng giống.

Để khắc phục tình trạng này, tháng 10/2020, Sở NN&PTNT Quảng Ninh đã trực tiếp làm việc với Sở NN&PTNT Ninh Bình ký kết quy chế phối hợp. Trong đó, phân rõ trách nhiệm của từng bên; trách nhiệm trao đổi thông tin về nguồn gốc và chất lượng con giống, tăng cường thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm khi phát hiện cung cấp giống hàu không đảm bảo bảo chất lượng theo quy định hiện hành. Bên cạnh đó, Sở đã kiến nghị lên Bộ NN&PTNT về những khó khăn trong sản xuất giống hàu để hỗ trợ tỉnh. Đối với việc này, Bộ đã giao nhiệm vụ cho Viện Nghiên cứu NTTS1 phối hợp với tỉnh Quảng Ninh trong việc nâng cao chất lượng giống nhuyễn thể tại địa phương.

Bên cạnh đó, đồng chí lãnh đạo Sở NN&PTNT cũng nêu rõ một số khó khăn, tồn tại và nguyên nhân về vấn đề sản xuất giống nhuyễn thể tại chỗ trên địa bàn tỉnh mới đáp ứng được khoảng 15% nhu cầu nuôi của người dân như: Do môi trường, độ mặn của vùng biển Quảng Ninh không thuận lợi với sản xuất giống hàu nên chưa chủ động được con giống; công tác chọn giống thủy sản nói chung và chọn giống hàu nói riêng chưa được thực hiện thường xuyên vì vậy có hiện tượng thoái hóa giống, nhất là giống nhuyễn thể; ý thức về chấp hành các quy định của nhà nước của người nuôi hàu chưa cao...


- Liên quan đến một số nội dung thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Sở Tài nguyên - Môi trường, đại biểu Nguyễn Thị Vân Hà, Tổ đại biểu TP Hạ Long chất vấn Giám đốc Sở Trần Như Long. Đại biểu đặt câu hỏi: Để đảm bảo nguồn cung và chất lượng nước, đáp ứng nhu cầu sản xuất, đời sống sinh hoạt của nhân dân, đề nghị đồng chí Giám đốc cho biết công tác quản lý nguồn nước ngầm hiện nay; các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc xả thải từ khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản… nhằm tránh ô nhiễm sông, suối và nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh.

Đại biểu Hoàng Bá Hướng chất vấn.
Đại biểu Hoàng Bá Hướng chất vấn.

Đại biểu Hoàng Bá Hướng, Tổ đại biểu Đông Triều đề nghị Giám đốc Công ty nước sạch Quảng Ninh làm rõ nội dung: Trong thời gian qua, cử tri tại nhiều địa phương (Hạ Long, Cẩm Phả…) nhiều lần kiến nghị về chất lượng nước sinh hoạt không đảm bảo yêu cầu, hệ thống đường ống cấp nước bị xuống cấp, hư hỏng không được kịp thời sửa chữa, thay thế ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của cử tri. Với vai trò lãnh đạo, Giám đốc Công ty nước sạch Quảng Ninh cho biết kết quả giải quyết những kiến nghị của cử tri tại các địa phương liên quan đến chất lượng dịch vụ cấp nước của đơn vị trong thời gian qua; giải pháp khắc phục, cam kết tiến độ xử lý dứt điểm các kiến nghị của cử tri trong thời gian tới.

 

+ Liên quan đến câu hỏi của đại biểu Nguyễn Thị Vân Hà, Tổ đại biểu TP Hạ Long, đồng chí Trần Như Long, Giám đốc Sở TN&MT, cho biết: Theo các tài liệu địa chất, địa chất thủy văn đã được điều tra, tài nguyên nước ngầm (nước dưới đất) trên địa bàn tỉnh được phân bố ở các địa phương từ Đông Triều, Uông Bí, Hạ Long, Vân Đồn, Cẩm Phả, một số địa bàn khu vực miền Đông, một số đảo Quan Lạn - Minh Châu, Cô Tô, Thanh Lân, Ngọc Vừng...

Đồng chí Trần Như Long, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, trả lời chất vấn.
Đồng chí Trần Như Long, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, trả lời chất vấn.

Hiện toàn tỉnh có 9 tầng chứa nước ngầm triển vọng, giàu nước, có thể khai thác phục vụ cấp nước sinh hoạt với quy mô công nghiệp. Tổng trữ lượng đã được điều tra, đánh giá của toàn tỉnh là 373.000 m3/ngày đêm, trong đó trữ lượng cấp A là 55.000m3/ngày đêm, cấp B là 130.000m3/ngày đêm, cấp C 188.000m3/ngày đêm.

Thực hiện Nghị định 167/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 5575/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 khoanh định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Theo đó trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã xác định các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, đó là: Khu vực có hàm lượng tổng chất rắn hòa tan (TDS) từ 1.500mg/l trở lên; khu vực có bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung; vùng đã được đấu nối với hệ thống cấp nước tập trung và vùng liền kề sẵn sàng đấu nối đảm bảo nhu cầu sử dụng nước cả về thời gian, lưu lượng và chất lượng phù hợp với mục đích sử dụng nước.

Công tác tham mưu cấp phép khai thác nước ngầm được Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện đảm bảo các yêu cầu, điều kiện theo quy định của Luật Tài nguyên nước, như: Phù hợp với Quy hoạch tài nguyên nước tỉnh Quảng Ninh đã được phê duyệt; khả năng nguồn nước và phải bảo đảm không gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước; khai thác sử dụng nước ngầm ưu tiên để phục vụ cho nhu cầu ăn uống, sinh hoạt; hạn chế việc khai thác nước ngầm cho sản xuất công nghiệp; cấp phép khai thác nước ngầm cho các khu vực đã được điều tra, đánh giá về địa chất thủy văn; việc cấp phép khai thác nước ngầm phải được thăm dò, đánh giá trữ lượng nước khi cấp giấy phép; tuân thủ quy định tại Nghị định 167/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất; Sở Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 5575/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 khoanh định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Giám đốc Sở TN&MT khẳng định: Sở TNMT hạn chế cấp phép khai thác nước ngầm đối với các khu vực đã được đấu nối với hệ thống cấp nước tập trung và vùng liền kề sẵn sàng đấu nối đảm bảo nhu cầu sử dụng nước cả về thời gian, lưu lượng và chất lượng phù hợp với mục đích sử dụng nước; khu vực có nguồn nước mặt có thể khai thác. Đến nay, Sở TNMT đã phối hợp với các sở ngành, UBND các địa phương tham mưu UBND tỉnh cấp phép khai thác, sử dụng nước ngầm cho 63 đơn vị với tổng lưu lượng 40.712m3/ngày đêm để phục vụ mục đích cho ăn uống, sinh hoạt. Trong đó cấp phép cho Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh là 31.700m3/ngày đêm để hòa vào mạng lưới cấp nước đô thị các khu vực Đông Triều, Vàng Danh - Uông Bí, Hạ Long, Cẩm Phả và Vân Đồn.

 

+ Trả lời chất vấn của Đại biểu Hoàng Bá Hướng, Tổ đại biểu Đông Triều, Chủ tịch HĐQT Công ty CP nước sạch Quảng Ninh Vũ Văn Tuấn, cho biết: Hiện Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh đang phục vụ 11/13 huyện, thị xã, thành phố với gần 245 ngàn khách hàng cá nhân và 5.050 khách hàng cơ quan, doanh nghiệp. Chất lượng nước của Công ty hiện đang đảm bảo theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01:2009/BYT về chất lượng nước ăn uống do Bộ Y tế ban hành (bao gồm 109 chỉ tiêu).

Trước hết, Công ty luôn coi việc xử lý các sự cố cấp nước là nhiệm vụ cấp bách, vừa để đảm bảo chất lượng nguồn nước sinh hoạt cho khách hàng, vừa để chống thất thoát, thất thu cho doanh nghiệp. Trong 11 tháng năm 2020, tỷ lệ thất thoát nước của Công ty chỉ là 11,34%, là 1 trong 10 đơn vị thất thoát thấp của toàn quốc. Tất cả các sự cố hệ thống cấp nước của Công ty đều được xử lý ngay, hạn chế đến mức tối đa việc gây ảnh hưởng đến cấp nước trên địa bàn tỉnh.

Chủ tịch HĐQT Công ty CP nước sạch Quảng Ninh Vũ Văn Tuấn giải đáp các vấn đề về chất lượng nước sinh hoạt.
Chủ tịch HĐQT Công ty CP nước sạch Quảng Ninh Vũ Văn Tuấn giải đáp các vấn đề về chất lượng nước sinh hoạt.

Cùng với đó, chất lượng nước sạch được sản xuất tại Công ty cũng đã và đang được kiểm soát chặt chẽ cả ở khâu nội kiểm và ngoại kiểm. Ở khâu nội kiểm, hiện Công ty có 20 phòng thí nghiệm hoạt động 24/24, kiểm soát 16 chỉ tiêu của QCVN 08-MT:2015/BTNMT đối với nguồn nước thô đầu vào, kịp thời phát hiện, khoanh vùng và xử lý các nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước; kiểm soát sau xử lý và nước thương phẩm với tần suất ít nhất 1lần/ca đối với 15 chỉ tiêu nhóm A của QCVN 01:2009/BYT.

Ở khâu ngoại kiểm, định kỳ 1 lần/quý, CDC tỉnh sẽ tiến hành lấy mẫu kiểm nghiệm chất lượng đối với tất cả nhà máy, khu xử lý và hộ khách hàng; đồng thời thường xuyên đột xuất không báo trước tự thực hiện ngoại kiểm. Ngoài ra, Công ty còn chịu sự giám sát, kiểm tra định kỳ, đột xuất của Bộ Y tế, Bộ TN&MT, Bộ Xây dựng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm môi trường (Công an tỉnh)...

Về vấn đề chất lượng nước sinh hoạt không đảm bảo yêu cầu theo phản ánh của các cử tri, Chủ tịch HĐQT Công ty CP nước sạch Quảng Ninh Vũ Văn Tuấn khẳng định: Đây chỉ là vấn đề xảy ra cục bộ tại một số điểm trên địa bàn tỉnh, không phản ánh chất lượng hệ thống.

Nguyên nhân gây ra tình trạng này, theo ông Tuấn là do mạng lưới cấp nước của Công ty trên địa bàn toàn tỉnh hiện còn hơn 182km đường ống thép, ống tráng kẽm các loại, đã sử dụng lâu năm, dẫn đến việc lão hóa, ảnh hưởng đến chất lượng cấp nước. Hiện mỗi năm, Công ty đã và đang đưa vào Kế hoạch hơn 100 tỷ đồng để thay thế thành ống HDPE, dự kiến đến 2025 sẽ cơ bản hoàn thành.

Bên cạnh đó, nhiều hộ khách hàng vẫn sử dụng đường ống sau đồng hồ và đường ống cấp nước nội bộ gia đình vẫn sử dụng ống thép tráng kẽm, qua thời gian làm suy giảm chất lượng nước. Công ty đã và đang tích cực tuyên truyền, tư vấn thay thế.

Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác, như: Công tác chỉnh trang công trình hạ tầng kỹ thuật làm vỡ đường ống, gây xâm nhập bẩn, gây hỏng nước cục bộ; chủ đầu tư hạ tầng một số dự án thi công đường ống cấp nước chất lượng kém... Công ty luôn tích cực phối hợp giữa công tác tuyên truyền, tư vấn và nhanh chóng khắc phục các sự cố...

Chủ tịch HĐQT Công ty CP nước sạch Quảng Ninh cũng cho biết thêm, hiện Công ty đang tích cực hoàn thiện việc xây dựng phòng thí nghiệm chất lượng nước theo tiêu chuẩn mới ISO/IEC 17025 và trạm quan trắc online chỉ tiêu chất lượng nước, sẽ đưa vào hoạt động trong năm 2021 để nâng cao năng lực, chủ động phân tích, các chỉ tiêu chất lượng nước, cảnh báo sớm và khắc phục nhanh sự cố. Đồng thời tích cực phối hợp với các cấp, ngành chức năng trong quản lý hồ đập, nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chất lượng nước từ nguồn; ứng dụng KHCN tiên tiến, tăng cường công tác tuyên truyền đến khách hàng trong công tác bảo vệ tài nguyên nước...

 

--------------------------------------------------------***-------------------------------------------------------

 

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC, QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, ĐÀO TẠO NGHỀ: CÁCH NÀO ĐỂ THEO KỊP YÊU CẦU PHÁT TRIỂN?

 

* Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh: Đảm bảo mỗi học sinh đều được đến trường, được hưởng chất lượng giáo dục tốt nhất

Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, kết luận nội dung chất vấn liên quan đến công tác giáo dục đào tạo.
Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, kết luận nội dung chất vấn liên quan đến công tác giáo dục đào tạo.

Kết luận nội dung chất vấn và trả lời chất vấn liên quan đến công tác giáo dục đào tạo, đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, nhấn mạnh: Đây là lĩnh vực tỉnh dành sự quan tâm cả về lãnh đạo, chỉ đạo và dành nguồn lực đầu tư. Riêng giai đoạn 2016- 2020, tỉnh đã chi cho giáo dục đào tạo từ nguồn ngân sách nhà nước là 21.923 tỷ đồng, tăng 61% giai đoạn 2010-2015. Bên cạnh việc quan tâm về nguồn lực thì tỉnh cũng rất quan tâm đên công tác đào tạo nghề như xây dựng Trường Đại học Hạ Long với nhiều cơ chế chính sách. Ngay tại kỳ họp này, tỉnh Quảng Ninh cũng xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ cho học sinh, sinh viên học nghề đối với ngành nghề tỉnh ưu tiên. Tuy nhiên, theo phát triển của tỉnh thì đây vẫn nút thắt cần được tháo gỡ.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh khẳng định, giáo dục đào tạo cũng có nhiều thành tích tuy nhiên so với nhu cầu phát triển còn có nhiều hạn chế do đó tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với tăng nhanh quy mô chất lượng dân số là một trong những đột phá và có đề án giao cho Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng Đề án phát triển giáo dục, đào tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Đây là chủ trương lớn, đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo ngành giáo dục đào tạo, ngành lao động, thương binh và xã hội nhanh chóng triển khai.

Đối với việc dạy học ngoại ngữ trong trường học mà các đại biểu quan tâm, thời gian qua tỉnh ta cũng tập trung cho vấn đề này và nhiều trường đã gặt hái được nhiều thành công. Tuy nhiên khó khăn vẫn nằm ở các trường ở các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt liên quan đến giáo việc dạy ngoại ngữ. Tới đây tỉnh sẽ có đề án giao cho ngành giáo dục có chương trình dạy và học ngoại ngữ cho  3 khu vực khác nhau: khu vực trung tâm, khu vực nông nghiệp có điều kiện tốt và  khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Đề cập đến một số giải pháp, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh yêu cầu tiếp tục sắp xếp lại các trường học đảm bảo phát triển hài hòa giáo dục công lập và ngoài công lập, trong đó hướng đến thu hút các trường ngoài công lập có chất lượng giáo dục cao. Có chính sách ưu tiên phát triển giáo dục đào tạo trong các khu vực khó khăn, DTTS, miền núi, hải đảo. Cùng với đó, tiếp tục chuyển đổi một số đơn vị giáo dục công lập ở những nơi có điều kiện sang mô hình giáo dục ngoài công lập để đảm bảo sắp xếp tinh giản bộ máy biên chế để đảm bảo mỗi học sinh đều được đến trường, được hưởng chất lượng giáo dục cao nhất.

Đối với việc phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, tiến hành rà soát lại và phải đảm bảo trong giai đoạn 2021-2025 phải đảm bảo những đội ngũ này phải đạt chuẩn, có chất lượng.

Liên quan đến công tác dạy nghề và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phải sắp xếp lại trường nghề theo hướng chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu thị trường. Trong đó sẽ tập trung cho Trường Đại học Hạ Long, Trường Cao Đẳng Việt – Hàn, đào tạo gắn với các lĩnh vực thế mạnh của tỉnh. Tỉnh sẽ nghiên cứu có chính sách để thu hút và đảm bảo các điều kiện về đội ngũ, giáo trình, điều kiện thực hành để đào tạo nghề có chất lượng. Xây dựng chuỗi liên kết sau đào tạo, gắn đào tạo với thực hành.

Riêng về lĩnh vực thu hút lao động tỉnh ngoài, tỉnh đã có chủ trương quan tâm đến nhà ở cho người lao động, đặc biệt là lao động ngoài tỉnh; dành các quỹ đất để phát triển quỹ nhà ở hợp lý.

Cuối cùng đồng chí cũng yêu cầu Sở Giáo dục và Đào tạo sớm hoàn thành đề án phát triển giáo dục đào tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030; đồng thời đề xuất các giải pháp khắc phục bất cập trong công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đã phân cấp quản lý về cho cấp huyện để đảm bảo không chỉ cơ sở vật chất, đội ngũ chuyên môn mà phải đảm bảo đồng bộ tổng thể trong quản lý nhà nước trên địa bàn.

 

- Mở đầu phiên chất vấn, đại biểu Nguyễn Hữu Tư, Tổ đại biểu TP Cẩm Phả đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo cho biết kết quả thực hiện việc phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo theo quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015-2020; những tồn tại, hạn chế, khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Trên cơ sở đó đưa ra các nguyên nhân và giải pháp để phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục và đào tạo trong đó có phát triển giáo dục ngoài công lập, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo.

Đại biểu Nguyễn Hữu Tư đặt câu hỏi với ngành GD&ĐT.
Đại biểu Nguyễn Hữu Tư đặt câu hỏi với ngành GD&ĐT.

- Cũng liên quan đến lĩnh vực giáo dục, đại biểu Bùi Thị Thu Hà, Tổ đại biểu TP Hạ Long cũng đề nghị Giám đốc Sở GD&ĐT cho biết những hạn chế khó khăn, bất cập; nguyên nhân và giải pháp để đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển hệ thống giáo dục tư thục trên địa bàn tỉnh, nhằm thực hiện tốt mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XV là phát triển hài hòa giữa giáo dục công lập và ngoài công lập.

Đại biểu Nguyễn Thị Dung, Tổ đại biểu TP Hạ Long cũng đề nghị Giám đốc Sở GD&ĐT cho biết những giải pháp để triển khai thực hiện hiệu quả mục tiêu Đảng bộ tỉnh đề ra chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

 

+ Đăng đàn đầu tiên trong phiên chất vấn tại hội trường, Giám đốc Sở GD&ĐT Nguyễn Thị Thuý đã trả lời, làm rõ chất vấn của đại biểu. Đồng chí cho biết: Sau 5 năm thực hiện quy hoạch phát triển giáo dục tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, mạng lưới các cơ sở giáo dục đào tạo của tỉnh tiếp tục được kiện toàn, củng cố và phát triển đa dạng, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Toàn tỉnh hiện có 630 trường từ mầm non đến THPT, trong đó có 55 trường tư thục. So với năm 2015, toàn tỉnh đã giảm 30 trường công lập, 163 điểm trường, thành lập được 27 trường. Kết quả này phản ánh sự nỗ lực của tỉnh trong việc đẩy mạnh XHH giáo dục đồng thời việc thực hiện chủ trương sắp xếp lại đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh.

Đồng chí Nguyễn Thị Thúy, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, trả lời chất vấn.
Đồng chí Nguyễn Thị Thúy, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, trả lời chất vấn.

Tuy nhiên, đồng chí Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ ra một số tồn tại trong thực hiện quy hoạch mạng lưới giáo dục liên quan đến việc tổng số trường dự kiến thành lập mới chưa đạt; một số trường thành lập chưa có trong quy hoạch như báo cáo và đại biểu đã chỉ ra. Nguyên nhân là do dự báo quy mô dân số, mạng lưới cơ sở giáo dục tại một số địa bàn lớn hơn mức thực tế, dẫn đến việc thực hiện Quy hoạch sau phê duyệt gặp nhiều khó khăn. Tại một số địa phương, dân số cơ học tăng nhanh, trung bình tăng 11 đến 12 ngàn học sinh/năm, để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, cần thiết thành lập mới các trường, trong đó có cả các trường chưa trong Quy hoạch. Thực hiện Nghị quyết số 18, Nghị quyết số 19 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, các địa phương trong tỉnh vừa thực hiện quy hoạch, vừa rà soát sắp xếp, dồn ghép, sáp nhập các trường lớp. Cùng với đó, theo quy định, việc thành lập mới, chia tách, sáp nhập, giải thể cơ sở giáo dục cấp huyện quản lý thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện, tuy nhiên, một số địa phương chưa có sự phối hợp chặt chẽ với Sở Giáo dục và Đào tạo nên thông tin về mạng lưới trường lớp đôi khi chưa được cập nhật kịp thời...

Trên cơ sở tồn tại, hạn chế, đồng chí Giám đốc Sở cũng đưa ra các giải pháp. Đó là tăng cường phối hợp với các địa phương; chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch; thực hiện rà soát, đánh giá việc thực hiện quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh. Trong đó, tiếp tục sắp xếp lại cơ sở giáo dục công lập, đẩy mạnh việc thành lập cơ sở giáo dục tư thục, nhất là đối với cấp học mầm non để giám sức ép về tăng quy mô cho trường công lập; đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; giải thể hoặc chuyển đổi mô hình các trường tư thục hoạt động không hiệu quả.

Sở sẽ tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống trường tư thục; đồng thời tham mưu cho UBND tỉnh Đề án tổng thể đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, đội ngũ đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn 2020-2025.

 

 

+ Trả lời câu hỏi của đại biểu Bùi Thị Thu Hà về thực trạng và phương hướng phát triển giáo dục tư thục,  Giám đốc Sở GD&ĐT cho biết: Trong những năm qua, được sự quan tâm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự vào cuộc tích cực của các cấp, ngành, của cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân, hệ thống giáo dục tư thục của tỉnh đã phát triển mạnh mẽ, góp phần đa dạng hóa các loại hình giáo dục, giảm áp lực cho các trường, giảm chi từ ngân sách, nâng cao tỉ lệ phổ cập giáo dục.

Theo thống kê nhanh, trong 20 năm qua, các doanh nghiệp, cá nhân đã huy động được trên 2.000 tỷ đồng để xây dựng giáo dục ngoài công lập. Hiện toàn tỉnh có 55 trường ngoài công lập từ cấp mầm non đến THPT (17 trường đã đạt chuẩn quốc gia), với 35.520 trẻ em, học sinh đang theo học (chiếm tỷ lệ 10.5%); tổng số cán bộ, giáo viên 2.661 người, chiếm trên 13,76% tổng giáo viên toàn ngành. Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên theo từng năm. Nhiều trường tư thục đã và đang ghi dấu ấn trong công tác GD&ĐT, như: Trường TH-THCS-THPT Văn Lang, Trường Tiểu học, THCS, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trường Đoàn Thị Điểm Hạ Long (TP Hạ Long), Mầm non quốc tế UK, Trường Mầm non quốc tế Hạ Long…

Đại biểu Bùi Thị Thu Hà, Tổ đại biểu TP Hạ Long.
Đại biểu Bùi Thị Thu Hà, Tổ đại biểu TP Hạ Long.

Tuy nhiên, thực trạng của giáo dục tư thục vẫn còn một số hạn chế, như: Tỷ lệ số lượng trường còn khiêm tốn; sĩ số học sinh còn ít, mới đạt 10,5%; nhiều trường tư cơ sở vật chất hạn chế; đội ngũ giáo viên còn thiếu; tuyển sinh chưa đạt kế hoạch; chất lượng giáo dục còn có khoảng cách so với các trường công...

Để khắc phục những thách thức và giải quyết khó khăn cho các trường tư thục nhằm thúc đẩy phát triển hệ thống các trường tư thục trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, Sở GD&ĐT sẽ tập trung vào 3 nhóm giải pháp, gồm: Tiếp tục tuyên truyền sâu rộng về các chủ trương, chính sách xã hội hóa để tất cả các đối tượng liên quan (các cơ quan quản lý, nhà đầu tư, đơn vị công lập, ngoài công lập và toàn xã hội) nhận thức đúng đắn, đầy đủ và thực hiện có hiệu quả chủ trương huy động các nguồn lực của xã hội cho giáo dục; làm tốt vai trò tham mưu để tỉnh ban hành thêm các cơ chế, chính sách thiết thực, khả thi, hỗ trợ các trường tư thục phát triển theo hướng nâng cao chất lượng; quan tâm phát triển hệ thống các trường tư thục gắn với thực hiện tốt quy hoạch phát triển giáo dục.

+ Liên quan đến câu hỏi của đại biểu Nguyễn Thị Dung, đồng chí Nguyễn Thị Thúy cho biết: Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã đặt ra mục tiêu là đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho tỉnh, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển KT-XH của tỉnh.

Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, trong thời gian vừa qua, bên cạnh việc tổ chức tuyên truyền, quán triệt nghị quyết cho toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trong toàn ngành, chúng tôi đã chủ động rà soát, đánh giá kết quả việc thực hiện đề án ngoại ngữ của tỉnh giai đoạn 2011-2020 (đề án 2020).

Đại biểu Nguyễn Thị Dung, Tổ đại biểu TP Hạ Long.
Đại biểu Nguyễn Thị Dung, Tổ đại biểu TP Hạ Long.

Từ thực tiễn quản lý của ngành trong thời gian qua, để triển khai thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp đã xây dựng trong Kế hoạch 149 của UBND tỉnh về dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, giai đoạn 2017-2025, trong đó tập trung vào những giải pháp cụ thể, đó là: Tăng cường công tác truyền thông để giáo viên, phụ huynh, học sinh và toàn xã hội thấy được vai trò của ngoại ngữ; khắc phục tình trạng học sinh không xác định đúng mục đích của việc học ngoại ngữ (nếu tổ hợp thi đại học không có ngoại ngữ là không học ngoại ngữ); tập trung giải quyết bất cập về đội ngũ giáo viên (số lượng, chất lượng), đặc biệt quan tâm cho vùng khó khăn.

Cùng với đó, chúng tôi sẽ tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy và học ngoại ngữ cho các trường ở khu vực khó khăn; xây dựng môi trường dạy và học tiếng Anh theo hướng có sự tham gia chất lượng của giáo viên nước ngoài; tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn chuyên môn; tham mưu để Bộ GD&ĐT quản lý chặt chẽ công tác bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ; tham mưu công tác thi phù hợp với chương trình học ở trường phổ thông.

 

- Tiếp tục đặt câu hỏi cho Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, đại biểu Nguyễn Hữu Tư, Tổ đại biểu Cẩm Phả nêu vấn đề: Hiện trong 120 trường có đến 90% các trường ở cấp mầm non cho đến THCS thuộc trách nhiệm quản lý của các địa phương đến thời hạn công nhận đạt chuẩn. Tuy nhiên hiện nay các địa phương chưa trình hồ sơ để công nhận đạt chuẩn. Với trách nhiệm là cơ quan tham mưu liên quan tới lĩnh vực trên, đề nghị Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo cho biết giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho 120 trường trên để đạt mục tiêu đại hội Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết HĐND tỉnh về trường đạt chuẩn quốc gia.

+ Đồng chí Nguyễn Thị Thúy, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, cho biết: Muốn công nhận là trường đạt chuẩn thì các trường phải chuẩn bị hồ sơ, điều kiện về cơ sở vật chất để báo cáo UBND tỉnh cử đoàn công tác liên ngành để kiểm tra, công nhận lại cho các trường này. Qua rà soát, cho thấy trên địa bàn tỉnh hiện có 120 trường đang quá hạn công nhận đạt chuẩn, trong đó trường mầm non có 60 trường, tiểu học có 22 trường, THCS có 26 trường, THPT có 12 trường. Trong 120 trường này thì 90% thuộc UBND cấp huyện quản lý, vì vậy để đảm bảo cơ sở vật chất đủ điều kiện công nhận đạt chuẩn quốc gia thì là trách nhiệm của chính quyền địa phương.

Hiện nay, qua rà soát 120 trường cho thấy không phải trường nào cũng không đạt chuẩn mà có thể đạt chuẩn nhưng chưa đề nghị công nhận lại nhưng có trường không đủ điều kiện đạt chuẩn do cơ sở vật chất xuống cấp nhưng không được duy tu bảo dưỡng, đội ngũ không được quan tâm, thiếu về số lượng và không đảm bảo chất lượng...

Để đầu tư đạt chuẩn thì trách nhiệm chính là của chính quyền địa phương trong việc quản lý, phân bổ, tuyển dụng, đào tạo. Ngành giáo dục sẽ cùng với địa phương tham mưu cho UBND tỉnh quan tâm bổ sung về nguồn lực về con người, kinh phí để đảm bảo triển khai tốt nội dung này.

 

- Liên quan đến việc vấn đề nâng tỷ lệ lớp học 2 buổi/ngày cho học sinh tiểu học, đại biểu Nguyễn Thị Hồng Quyên, Tổ đại biểu Cẩm Phả đề nghị: Chủ tịch UBND TP Cẩm Phả cho biết về thực trạng, khó khăn, bất cập; nguyên nhân và giải pháp để nâng tỷ lệ lớp học 2 buổi/ngày cho học sinh tiểu học trên địa bàn thành phố, đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục trong thời gian tới. Bởi theo chương trình giáo dục mới hiện nay, 100% các trường có cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh tổ chức thực hiện dạy học 2 buổi/ngày. Tuy nhiên, theo báo cáo của TP Cẩm Phả, tỷ lệ học 2 buổi/ngày mới đạt 44%.

Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Quyên, Tổ đại biểu Cẩm Phả.
Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Quyên, Tổ đại biểu Cẩm Phả.

 

+ Chủ toạ Kỳ họp yêu cầu đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Chủ tịch UBND TP Cẩm Phả làm rõ nội dung này. Chủ tịch UBND TP Cẩm Phả cho biết: Năm học 2020-2021, toàn TP Cẩm Phả có tổng có 566 lớp khối tiểu học gồm 114 lớp 1 và 452 các lớp còn lại. Trong đó, 114/114=100% lớp 1 đã bố trí dạy học 2 buổi/ngày. 135/452 các lớp còn lại được dạy học 2 buổi/ngày, đạt 29,86% (5-8 buổi/tuần). Tỷ lệ học sinh được học 2 buổi/ngày của thành phố Cẩm Phả hiện tại đạt thấp (44%).

Đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Chủ tịch UBND TP Cẩm Phả, trả lời chất vấn.
Đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Chủ tịch UBND TP Cẩm Phả, trả lời chất vấn. 

Giải trình về thực trạng tỷ lệ học 2 buổi/ngày của thành phố còn thấp, Chủ tịch UBND TP Cẩm Phả đã giải trình 3 nguyên nhân chính: Về đội ngũ giáo viên thì tỷ lệ giáo viên tiểu học/lớp đạt 1,36, do đó không đảm bảo đủ để dạy 2 buổi/ngày. Về số học sinh hiện đang bố trí tối thiểu từ 35 học sinh/lớp, một số trường đã phải dồn ghép lớp để đảm bảo có đủ giáo viên thực hiện chương trình giáo dục theo quy định. Về cơ sở vật chất, tổng số phòng học hiện có là 479/566 lớp, các phòng hiện nay chủ yếu được xây dựng theo tiêu chuẩn cũ, không đảm bảo diện tích tối thiểu, do vậy việc dồn học sinh mỗi lớp trên 40 học sinh để tăng tỉ lệ dạy học 2 buổi/ngày là không đảm bảo quy định.

Bên cạnh việc chỉ rõ những tồn tại, bất cập trong việc thực hiện chương trình dạy học 2 buổi/ngày cho khối tiểu học trên địa bàn như: Số lượng giáo viên cho khối mầm non và trung học cơ sở thiếu so với biên chế được giao và định mức theo quy định, lãnh đạo thành phố đã đưa ra các giải pháp trọng tâm để tăng tỉ lệ học sinh học 2 buổi/ngày trong những năm tới. Cụ thể như: Triển khai xây dựng kế hoạch chuẩn bị đủ các điều kiện dạy học 2 buổi/ngày từ lớp 2 đến lớp 5 năm học 2021-2025 theo lộ trình và đảm bảo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo; tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, đặc biệt là phòng học, phòng bộ môn cho các trường tiểu học để đảm bảo đủ mỗi lớp 1 phòng học phục vụ dạy học 2 buổi/ngày; rà soát, sắp xếp lại đội ngũ giáo viên tiểu học hằng năm để có phương án bố trí phù hợp giữa các trường; báo cáo đề xuất tỉnh bố trí đủ biên chế theo định mức và tổ chức tuyển dụng hàng năm đúng thời gian, đủ số giáo viên tiểu học đảm bảo định mức theo quy định để dạy học 2 buổi/ngày (1,5 giáo viên/lớp)…

Hiện thành phố đang tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, đặc biệt là phòng học, phòng bộ môn cho các trường tiểu học, đảm bảo đủ mỗi lớp 1 phòng học phục vụ dạy học 2 buổi/ngày. Riêng trong năm 2020, thành phố đang thực hiện xây mới 51 phòng học, 15 phòng chức năng, dự kiến các phòng học sẽ được đưa vào sử dụng trong học kỳ 2 của năm học 2020-2021. Qua đó sẽ cơ bản giải quyết được số phòng học còn thiếu 2 buổi/ngày. Đồng thời, thành phố cũng sẽ tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ giáo viên tiểu học hằng năm để có phương án bố trí phù hợp giữa các trường; báo cáo đề xuất tỉnh bố trí đủ biên chế theo định mức và tổ chức tuyển dụng hàng năm đúng thời gian, đủ số giáo viên tiểu học đảm bảo định mức theo quy định. Mục tiêu của thành phố là năm học 2023-2024, Cẩm Phả sẽ đảm bảo đủ các điều kiện dạy học 2 buổi/ngày từ lớp 2 đến lớp 5 theo đúng quy định của Bộ GD&ĐT.

 

- Góp ý với Sở GD&ĐT và kiến nghị với tỉnh về lĩnh vực trọng tâm này, đồng chí Vũ Văn Diện, Bí thư Thành ủy Hạ Long, Tổ trưởng Tổ đại biểu TP Hạ Long, nhận định, công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh hiện nay đang chia làm 2 vùng rõ rệt: Vùng phát triển, có điều kiện cơ sở vật chất tương đối tốt, có điều kiện thuận lợi nhưng sĩ số học sinh ngày càng tăng, trong khi biên chế giáo viên giảm dần dần, kéo theo chất lượng GD&ĐT chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế. Ở vùng khó khăn, nguồn lực đầu tư chưa đủ đáp ứng yêu cầu phát triển, sĩ số lại phân tán mỏng, chất lượng dạy và học cũng bị ảnh hưởng.

Đồng chí Vũ Văn Diện, Bí thư Thành ủy Hạ Long, Tổ trưởng Tổ đại biểu TP Hạ Long.
Đồng chí Vũ Văn Diện, Bí thư Thành ủy Hạ Long, Tổ trưởng Tổ đại biểu TP Hạ Long.

Trong toàn tỉnh, hiện có 120 trường đã quá hạn công nhận chuẩn quốc gia, trong đó riêng TP Hạ Long chiếm khoảng 50%. Ngay sau Đại hội Đảng bộ TP Hạ Long và Đại hội Đảng bộ tỉnh, TP Hạ Long đã tập trung chỉ đạo xây dựng kế hoạch xây dựng trường chuẩn quốc gia với mục tiêu: Những trường đã đạt thì không được để mất chuẩn, những trường chưa đạt thì phải phấn đấu đạt chuẩn theo hướng thực chất.

Để thực hiện mục tiêu xây dựng trường chuẩn quốc gia kết hợp với việc nâng cao chất lượng GD&ĐT trên địa bàn tỉnh, đại biểu Vũ Văn Diện đề xuất: Trong thời gian tới, ở khu vực trung tâm đô thị, cần cơ cấu sắp xếp lại vấn đề sĩ số; làm chuẩn công tác tuyển sinh, đảm bảo chặt chẽ vùng tuyến. Đồng thời cần quan tâm xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý, giáo viên cốt cán, đảm bảo chất lượng giáo dục hướng tới sự đồng đều. Đồng thời, tỉnh cũng cần nghiên cứu xem xét dành quỹ đất để thu hút đầu tư vào giáo dục ngoài công lập chất lượng cao; sắp xếp, điều chỉnh lại các cơ sở GD&ĐT trong nội thị TP Hạ Long.

Đồng chí Vũ Văn Diện nhấn mạnh: GD&ĐT là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, là “gốc rễ” đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển tổng thể chính trị, KT-XH. Chính vì vậy, cần phải ưu tiên, dành nhiều nguồn lực, quyết tâm thực hiện thật tốt các nội dung của ngành GD&ĐT để đưa tỉnh phát triển ngày càng bền vững trong tương lai.

 

- Liên quan đến công tác định hướng học sinh học nghề, đại biểu Trần Thùy Liên, Tổ đại biểu Quảng Yên chất vấn Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội: Tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn tỉnh đạt trên 85%, song công tác tuyển sinh trình độ trung cấp, cao đẳng đạt thấp, chiếm trên 16% tổng số tuyển sinh hàng năm, chủ yếu vẫn là đào tạo trình độ sơ cấp và ngắn hạn; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề có bằng cấp, chứng chỉ chưa cao, đạt 45,5%.

Đại biểu Trần Thùy Liên, Tổ đại biểu Quảng Yên.
Đại biểu Trần Thùy Liên, Tổ đại biểu Quảng Yên.

Đồng chí Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết những khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và giải pháp để nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo, đặc biệt là nâng cao tỷ lệ học sinh học nghề có trình độ trung cấp, cao đẳng, đáp ứng cung cấp nguồn nhân lực có tay nghề cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Đại biểu Ngọc Thái Hoàng, Tổ đại biểu Cẩm Phả.
Đại biểu Ngọc Thái Hoàng, Tổ đại biểu Cẩm Phả.

- Đại biểu Ngọc Thái Hoàng, Tổ đại biểu Cẩm Phả đề nghị Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết rõ hơn về những giải pháp để tham mưu cho tỉnh trong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu lao động cho những ngành nghề mà tỉnh đang cần, nhất là trong lĩnh vực chế biến, chế tạo, xây dựng, du lịch… Giải pháp nâng cao chất lượng dạy, học nghề và thu hút học sinh, sinh viên vào tại các trường nghề của tỉnh; xây dựng Trường Cao đẳng nghề Việt - Hàn trở thành trường đào tạo nguồn nhân lực nghề chất lượng cao của tỉnh.

 

+ Trả lời câu hỏi của đại biểu Trần Thùy Liên, Giám đốc Sở LĐTB&XH Nguyễn Hoài Sơn cho biết, Trong những năm qua, việc nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo, do cơ cấu đào tạo nghề chưa ổn định. Mặc dù hàng năm tỷ lệ tuyển sinh đào tạo nghề đều đạt , tuy nhiên vẫn còn những khó khăn, vướng mắc trong việc nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo. Trong đó, hiện nay, công tác tuyển sinh trong giáo dục nghề nghiệp còn hạn chế, nhất là tuyển sinh trình độ trung cấp và cao đẳng, đặc biệt ở những ngành, nghề nặng nhọc độc hại, những ngành nghề xã hội, doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng nhưng học sinh, sinh viên không đăng ký tham gia học nghề. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp chưa cung cấp đầy đủ kịp thời kế hoạch sử dụng lao động trong trung hạn của đơn vị, khi có nhu cầu thì thông báo tuyển lao động. Vì vậy, số liệu dự báo về nhu cầu sử dụng lao động đối với nghề không cụ thể, chỉ dự báo được xu thế sử dụng lao động về ngành, lĩnh vực. Do đó, công tác đào tạo lao động khó đáp ứng được kịp thời về cơ cấu trình độ, ngành, nghề đối với thị trường lao động. Chất lượng, hiệu quả đào tạo của nhiều cơ sở GDNN mặc dù đã được cải thiện, tuy nhiên cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy, thực hành nghề còn thiếu, lạc hậu, một số nơi đầu tư chưa đồng bộ.

Đồng chí cho biết thêm nguyên nhân của những khó khăn này xuất phát từ nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền và các cơ quan chức năng về giáo dục nghề nghiệp ở một số địa phương chưa đầy đủ, thậm chí còn coi nhẹ; một bộ phận xã hội vẫn chưa nhận thức đúng về vai trò quan trọng của giáo dục nghề nghiệp; công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS, THPT chưa đạt mục tiêu đề ra; tình trạng các doanh nghiệp chỉ tuyển lao động phổ thông, không cần qua đào tạo, cộng với xu thế tỷ lệ sinh giảm.

Qua đó, đồng chí Giám đốc Sở LĐ-TB&XH đề xuất tỉnh các giải pháp để nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo. Trong đó, trước mắt cần tăng cường, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, tạo sự chuyển biến về nhận thức, đồng thuận của xã hội về phát triển giáo dục nghề nghiệp, vị trí, vai trò của nhân lực có kỹ năng, nhằm huy động sự tham gia và nguồn lực của toàn xã hội. Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng đào tạo tại các các trường, công tác đào tạo nghề phải bảo đảm chất lượng gắn với đầu ra với thu nhập khá. Các trường ký cam kết với người học về tạo việc làm, đó chính là giải pháp bền vững cho các trường trong giai đoạn tới.

Đồng chí Nguyễn Hoài Sơn, Giám đốc Sở LĐTB&XH, trả lời nội dung chất vấn.
Đồng chí Nguyễn Hoài Sơn, Giám đốc Sở LĐTB&XH, trả lời nội dung chất vấn.

Mặt khác, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở đào tạo, cụ thể là tăng cường kiểm tra, rà soát năng lực của các cơ sở đào tạo, công tác tuyển sinh, đào tạo, tạo việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường. Tăng cường phối hợp giữa các địa phương với Ban Quản lý Khu kinh tế, các đơn vị liên quan dự báo nhu cầu sử dụng lao động trong khu công nghiệp thuộc địa bàn quản lý; triển khai chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghiệp mũi nhọn, đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư. Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về lợi ích của giáo dục nghề nghiệp đối với sự phát triển của doanh nghiệp để từ đó chủ động tham gia, đóng góp chính và tích cực vào hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Tỉnh cần xây dựng và ban hành chính sách thu hút người học nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực cho một số lĩnh vực đặc thù riêng Quảng Ninh (chính sách hỗ trợ học nghề trình độ cao đẳng, trung cấp; chính sách hỗ trợ phân luồng học sinh THCS...).

+ Trả lời câu hỏi của đại biểu Ngọc Thái Hoàng, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH cho biết, những giải pháp trong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu những ngành, nghề mà tỉnh đang cần. Trong đó, tập trung làm tốt công tác dự báo nhu cầu xây dựng và cập nhật dữ liệu mở về lao động có kỹ năng nghề theo từng lĩnh vực, ngành nghề, trình độ đào tạo, nhất là những ngành nghề, kỹ năng mới và cập nhật dữ liệu theo định kỳ; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc kết nối cung -cầu lao động.

Cùng với đó, tăng cường gắn kết chặt chẽ 3 “Nhà”: Nhà nước- Nhà trường - Nhà doanh nghiệp trong các hoạt động giáo dục nghề nghiệp; khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào công tác giáo dục nghề nghiệp; tuyển dụng, sử dụng người lao động đã qua đào tạo hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia theo quy định của pháp luật. Ngành sẽ tiếp tục triển khai có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề; chú trọng đào tạo lại và đào tạo thường xuyên lực lượng lao động. Đồng thời, tham mưu xây dựng chính sách đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp…

Bên cạnh đó, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH đã nêu rõ các giải pháp nâng cao chất lượng dạy, học nghề và thu hút học sinh, sinh viên vào tại các trường nghề của tỉnh, như: Nâng cao chất lượng tư vấn tuyển sinh định hướng nghề nghiệp; đa dạng hóa nội dung và hình thức tuyên truyền; triển khai thực hiện các giải pháp để phân luồng học sinh sau THCS, THPT vào học trung cấp, cao đẳng nghề; tiếp tục tham mưu đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo cho các trường cao đẳng, các trung tâm giáo dục nghề nghiệp cấp huyện; khuyến khích các trường cao đẳng mở phân hiệu, chi nhánh tại các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh. Tham mưu ban hành chính sách hỗ trợ học nghề thuộc danh mục nghề khuyến khích đào tạo và hỗ trợ kinh phí, học phí học văn hóa cho học sinh tốt nghiệp THCS học tiếp lên trình độ trung cấp, cao đẳng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2025.

Đồng chí cho biết, để xây dựng Trường Cao đẳng nghề Việt - Hàn trở thành trường đào tạo nguồn nhân lực nghề chất lượng cao của tỉnh, cần phải tăng cường ngân sách tập trung đầu tư cho Trường trở thành trường chất lượng cao đào tạo các ngành, nghề trọng điểm quốc gia, ngành, nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực, quốc tế; tập trung nâng cao năng lực và trình độ đội ngũ giảng viên, giáo viên đạt được các tiêu chí, tiêu chuẩn giáo viên trường chất lượng cao; gắn công tác đào tạo của Nhà trường với nhu cầu của thị trường việc làm; lấy nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp làm phương châm để đổi mới chương trình, giáo trình và phương thức đào tạo;  tham mưu ban hành chính sách thu hút, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Trường Đại học Hạ Long, Trường Cao đẳng Việt - Hàn và các trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh gắn với tăng quy mô và chất lượng dân số...

 

* Trung tâm Truyền thông tỉnh tiếp tục cập nhật về kỳ họp...

Nhóm PV

;
.
.