.

 

Trong những năm qua, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không ngừng đổi mới phương thức và nâng cao năng lực lãnh đạo; xây dựng Đảng dựa trên phát huy truyền thống cách mạng của vùng Mỏ anh hùng, bất khuất, “Kỷ luật và Đồng tâm”. Đảng bộ tỉnh đã vận dụng sáng tạo những chủ trương của Đảng để đưa ra những sáng kiến chính trị nổi bật, trở thành nguồn cảm hứng chính trị để nhiều địa phương khác trong cả nước học tập, làm theo, là những cơ sở khoa học - thực tiễn quan trọng để Trung ương tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng tại Quảng Ninh trong thời gian qua đã mang lại những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả, năng lực lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tốt hơn vai trò của chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội. Trong đó, tỉnh đã đổi mới toàn diện, đồng bộ công tác cán bộ - khâu đột phá, then chốt để đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Tỉnh đã tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng, kế thừa và phát triển giữa các thế hệ cán bộ ở từng cấp. Tạo môi trường, điều kiện khuyến khích, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung, vì nhân dân. Đổi mới và kiên trì thực hiện hiệu quả chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài vào làm việc trong các cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội theo vị trí việc làm và khung năng lực. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, năng lực, tính chuyên nghiệp cao, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

 
 

Bám sát Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các nghị quyết chuyên đề, chỉ thị, quy định của Trung ương, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định về công tác cán bộ, đồng thời, chú trọng xây dựng, kịp thời bổ sung quy hoạch cán bộ bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ; luân chuyển cán bộ có hiệu quả. Giai đoạn 2015-2019, toàn tỉnh luân chuyển, điều động 3.349 lượt cán bộ (Cấp tỉnh: 117 trường hợp; cán bộ diện BTV các huyện, thị, thành uỷ và sở ban ngành quản lý: 3.232 trường hợp). Đến nay, 100% các trường hợp đều phát huy tốt vai trò nhiệm vụ.

Song song với đó, Quảng Ninh quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ. Trong 5 năm thực hiện Đề án 293 (2015-2019), cấp tỉnh đã sử dụng 259,2 tỷ đồng để chi đào tạo, bồi dưỡng cho 46.109 lượt cán bộ; phối hợp tổ chức bồi dưỡng chuyên đề ở nước ngoài cho gần 60 lớp.

Một lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh Quảng Ninh về quản lý du lịch bền vững và chiến lược phát triển điểm đến du lịch tại Đại học Công nghệ Auckland (AUT), New Zealand.
Một lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh Quảng Ninh về quản lý du lịch bền vững và chiến lược phát triển điểm đến du lịch tại Đại học Công nghệ Auckland (AUT), New Zealand.

Các cấp uỷ Đảng của Quảng Ninh cũng tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm dân chủ, minh bạch trong bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử; thực hiện bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý qua thi tuyển cạnh tranh. Giai đoạn 2015-2019, toàn tỉnh đã bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu ứng cử 1.813 trường hợp (trong đó cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy: 199 trường hợp; cán bộ diện Ban thường vụ các cấp uỷ, sở ban ngành quản lý: 1.614 trường hợp). Tổ chức thi tuyển được 08 vị trí diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý (tổng số 33 ứng cử viên dự thi), 155 cán bộ cấp phòng.

Đặc biệt, công tác xây dựng, đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị được Quảng Ninh triển khai quyết liệt, hiệu quả với nhiều mô hình mới, đột phá. Tỉnh đã ban hành và đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TU, ngày 03/3/2015 của Tỉnh ủy về “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế”. Đặc biệt sau khi có Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình 21-CT/TU với yêu cầu cao hơn, toàn diện và đồng bộ hơn; quyết liệt triển khai thực hiện và đạt được nhiều kết quả nổi bật trong sắp xếp tổ chức, bộ máy.

Đảng bộ Cơ quan Khối MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đã tổ chức Đại hội Đảng bộ lần thứ II, nhiệm kỳ 2020-2025.
Đảng bộ Cơ quan Khối MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đã tổ chức Đại hội Đảng bộ lần thứ II, nhiệm kỳ 2020-2025.

Cụ thể là chủ động, quyết liệt sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; mạnh dạn thí điểm thành công nhiều mô hình mới; 100% đơn vị cấp huyện thành lập cơ quan tham mưu, giúp việc chung khối Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; hợp nhất cơ quan ủy ban kiểm tra - thanh tra và cơ quan tổ chức - nội vụ cấp huyện; thành lập Trường đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ trên cơ sở sáp nhập các trường có cùng chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; là tỉnh đầu tiên thành lập Đảng bộ Cục Thuế tỉnh trực thuộc Tỉnh ủy gắn với sắp xếp lại tổ chức ngành thuế; thành lập Trung tâm Truyền thông tỉnh trên cơ sở hợp nhất các cơ quan báo chí, truyền thông của tỉnh; thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp huyện trực thuộc UBND cùng cấp…

Quảng Ninh cũng đi sâu sắp xếp, kiện toàn một số tổ chức và các đầu mối bên trong của từng tổ chức, cơ quan chuyên môn theo hướng giảm đầu mối, giảm tối đa cấp trung gian, giảm cấp phó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Triển khai hiệu quả việc nhập huyện Hoành Bồ vào thành phố Hạ Long (thuộc diện khuyến khích), sắp xếp giảm 09 đơn vị hành chính cấp xã không đảm bảo tiêu chí theo quy định. Cơ cấu lại và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp.

 
 

Đến nay đã giảm 48 đơn vị sự nghiệp, chiếm 18%. Số đơn vị tự chủ kinh phí từ 10% đến 100% từ 103 đơn vị (trước khi thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW) được nâng lên 142 đơn vị (85 đơn vị tự chủ 100%, 57 đơn vị tự chủ từ 10% đến 90%). Tổng kinh phí tiết kiệm do giao tự chủ là 38,3 tỷ đồng.

Tỉnh cũng tăng cường thực hiện chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch HĐND hoặc chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã; cơ bản thực hiện bí thư cấp ủy cấp huyện không phải là người địa phương; 100% bí thư cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị; bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, bản, khu phố. Ở cấp huyện thực hiện bí thư đồng thời là chủ tịch UBND tại 3/13, đạt 23,08% (Tiên Yên, Cô Tô, Đông Triều). Cấp xã: Bí thư đồng thời là chủ tịch UBND tại 119/177 địa phương, đạt 67,23% (đầu nhiệm kỳ là 30,65%); bí thư đồng thời là chủ tịch HĐND tại 24/177 địa phương, đạt 13,56%. Đến nay có 150/177 (84,75%) bí thư cấp xã, 13/13 bí thư cấp ủy cấp huyện không là người địa phương.

tỉnh Quảng Ninh tổ chức lễ gắn biển Cụm công trình Trung tâm Hành chính tỉnh chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020-2025.
Tỉnh Quảng Ninh tổ chức lễ gắn biển Cụm công trình Trung tâm Hành chính tỉnh chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020-2025.

Quảng Ninh cũng quyết liệt tinh giản 10% tổng số biên chế, thực hiện đúng số lượng tổng biên chế Trung ương giao hoặc thẩm định, gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đi đầu trong cả nước thực hiện khoán biên chế cấp xã, khoán quỹ hỗ trợ ở thôn, bản, khu phố, giảm mạnh số lượng người hưởng lương hoặc phụ cấp từ ngân sách. Từ năm 2015, toàn tỉnh không chi trả trực tiếp theo mức cụ thể hàng tháng phụ cấp thường xuyên đối với 18.919 người, gồm: Chi hội trưởng, chi hội phó đoàn thể các thôn, bản, khu phố; tổ trưởng tổ dân, xóm trưởng dân cư; phó thôn, bản, khu phố...

Để đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, Quảng Ninh chú trọng đổi mới trong xây dựng, ban hành nghị quyết của Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo thể chế hóa thành văn bản pháp luật, quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Việc ban hành nghị quyết, chỉ thị, kết luận được đổi mới từ khâu lựa chọn nội dung, giao cơ quan chủ trì chuẩn bị, đến khâu ban hành theo hướng ngắn gọn, cụ thể, rõ việc, rõ trách nhiệm. Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy tăng cường ban hành các nghị quyết chuyên đề; lựa chọn các vấn đề thiết yếu, phù hợp, đúng tầm, trọng tâm, trọng điểm; chỉ ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo khi thật sự cần thiết, đảm bảo tính khả thi, đột phá. Coi trọng ý kiến tham gia của các cấp, các ngành, các chuyên gia, các nhà khoa học; phát huy vai trò của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội thông qua chức năng phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng. Chủ động nghiên cứu để định vị rõ hơn, sâu sắc hơn những giá trị so sánh của tỉnh trên tương quan quốc gia và quốc tế để có những hướng đi mới, bền vững; kịp thời tháo gỡ những nút thắt, giải phóng tiềm lực, nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh tỉnh.

Hội nghị Ban Thường vụ tỉnh ủy.
Hội nghị Ban Thường vụ tỉnh ủy.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm đếm tiến độ, kết quả việc thực hiện các nghị quyết đã ban hành; thành lập các nhóm công tác do các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, lãnh đạo tỉnh phụ trách, trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc, kiểm điểm tại các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc, cấp ủy và tập thể lãnh đạo các sở, ban, ngành trong triển khai thực hiện các nghị quyết, chủ trương của tỉnh.

Cùng với đó, Quảng Ninh đã thực hiện đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng. Tỉnh ủy chỉ đạo việc xây dựng mối quan hệ, lề lối làm việc thông qua việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống những quy chế, quy định (Quy chế hoạt động của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy; phân công các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh phụ trách, theo dõi chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm, quy chế phối hợp giữa Văn phòng Tỉnh uỷ và các ban xây dựng Đảng; quy chế phối hợp giữa các ban xây dựng Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội với các cơ quan chính quyền...).

Đồng chí Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch UBND tỉnh, kiểm tra tiến độ thi công đường nối QL18 với Khu di tích danh thắng Yên Tử.
Đồng chí Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch UBND tỉnh, kiểm tra tiến độ thi công đường nối QL18 với Khu di tích danh thắng Yên Tử.

Các cấp ủy tập trung chỉ đạo rà soát, xây dựng, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy chế làm việc, hoạt động; quy định chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhất là ở những nơi thực hiện hợp nhất, nhất thể hóa chức danh, sử dụng cơ quan tham mưu giúp việc chung. Nhiều cấp ủy đã xây dựng quy chế với nhiều nét riêng: Quy chế tiếp xúc đối thoại với nhân dân; Quy chế thi đua khen thưởng trong sản xuất kinh doanh; Bộ tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; Quy tắc ứng xử về nếp sống văn minh đô thị, văn minh công sở.

Định kỳ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức làm việc với ban thường vụ tất cả các huyện, thị, thành ủy, các ban xây dựng đảng, một số đảng ủy trực thuộc để triển khai các nhiệm vụ trọng tâm từng giai đoạn; chỉ đạo tổ chức giao ban các ban xây dựng Đảng từ tỉnh tới cơ sở; chỉ đạo đồng bộ công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, tăng cường giám sát thường xuyên, không báo trước; đổi mới cách lãnh đạo, chỉ đạo một cách quyết liệt, sâu sát, kiểm đếm rõ tiến độ, đánh giá định lượng kết quả công việc.

Ông Hà Thanh Hiên (thứ ba, từ trái qua), Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn 13, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, đã tuyên truyền, vận động người dân hiệu quả trong công tác giải phóng mặt bằng làm đường Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn.
Ông Hà Thanh Hiên (thứ ba, từ trái qua), Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn 13, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, đã tuyên truyền, vận động người dân hiệu quả trong công tác giải phóng mặt bằng làm đường Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn.

Cùng với đó, Đảng bộ tỉnh thực hiện đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng thông qua nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý và người đứng đầu các cấp. Đồng thời, tăng cường đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền; phát huy vai trò người có uy tín và đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên; tăng cường nêu gương người tốt, việc tốt, lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực; chủ động dự báo, nắm bắt thông tin báo chí và dư luận, chủ động trong định hướng thông tin, thông tin hai chiều; tuyên truyền vận động cá biệt đối với một số nhóm đối tượng cụ thể.

Các cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính, giảm bớt thủ tục, giấy tờ không cần thiết; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý điều hành để nâng cao chất lượng công việc và tiết kiệm chi phí hành chính. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thực thi kỷ luật Đảng với kiểm soát, thanh tra theo pháp luật của Nhà nước.

Trong thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức Đảng trong điều kiện mới. Chủ động, kịp thời vận dụng sáng tạo các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế ở địa phương thông qua việc nâng cao chất lượng ban hành các chủ trương, cơ chế, chính sách phát triển đúng đắn của cấp ủy theo hướng thiết thực, ngắn gọn, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng khâu lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, đôn đốc, sơ kết, tổng kết.

Thùy Linh

Trình bày: Hải Anh

 

Đã theo thông lệ, mỗi năm tỉnh Quảng Ninh đều xác định một chủ đề công tác năm cụ thể. Đây có thể nói là “kim chỉ nam” để tỉnh, các cấp, ngành, địa phương trực thuộc xây dựng giải pháp, các chương trình hành động, kế hoạch thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ trọng tâm trong 1 năm. Chủ đề công tác năm đã tạo được sự thống nhất từ ý chí đến hành động trong hệ thống chính trị của tỉnh, để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ưu tiên nguồn lực, tạo đột phá, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh.

Còn nhớ, năm 2012 lần đầu tiên tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Bộ KH&ĐT tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư quy mô quốc gia. Trong sự kiện quan trọng này, cũng là lần đầu tiên, Quảng Ninh công bố chủ đề công tác năm trên phạm vi rộng, trước sự chứng kiến của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, cùng hàm trăm nhà đầu tư hàng đầu trong nước và quốc tế.

Lấy chủ đề năm 2012 là Năm quy hoạch và xây dựng chiến lược phát triển, tỉnh Quảng Ninh quyết tâm với mục tiêu thực hiện tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh” từ nền tảng quy hoạch theo cách tiếp cận mới mẻ, làm thay đổi nhanh diện mạo phát triển của tỉnh theo hướng bền vững, tạo ra một Quảng Ninh khác biệt. Tỉnh là địa phương đầu tiên của cả nước được Chính phủ đồng ý cho thuê các tập đoàn tư vấn hàng đầu của Mỹ, Nhật Bản, Pháp như McKinsey, BCG, Nippon Koei, Nikken để tư vấn lập 7 quy hoạch chiến lược đến năm 2020 tầm nhìn 2050, bao trùm lên tất cả lĩnh vực, gồm: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh; Quy hoạch sử dụng đất; Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch; Quy hoạch môi trường; Quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ và Quy hoạch phát triển nhân lực.

Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Đọc trao giấy chứng nhận đầu tư cho các nhà đầu tư tại Hội nghị Công bố các quy hoạch chiến lược tỉnh Quảng Ninh (tháng 9/2014).
Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Đọc trao giấy chứng nhận đầu tư cho các nhà đầu tư tại Hội nghị Công bố các quy hoạch chiến lược tỉnh Quảng Ninh (tháng 9/2014).

Thực hiện chủ đề công tác năm 2012, các địa phương cũng đã tích cực vào cuộc, nhanh chóng hoàn thiện các quy hoạch cấp địa phương, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất từ cấp tỉnh đến cấp huyện, tính kết nối vùng và trong cả nước. Chỉ sau 2 năm, đến năm 2014, Quảng Ninh đã chính thức công bố 7 bản quy hoạch chiến lược đồng bộ, tầm nhìn dài hạn, được Chính phủ, các nhà đầu tư đánh giá cao.

Từ bước khởi đầu mạnh mẽ của năm 2012, những năm tiếp sau, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã bàn thảo rất kỹ lưỡng, dựa trên tình hình thực tiễn của tỉnh, những vấn đề mà người dân, doanh nghiệp quan tâm, mong muốn đối với tỉnh, để triển khai các chủ đề công tác năm. Lần lượt từ năm 2013 đến nay, tỉnh Quảng Ninh đã lựa chọn các chủ đề công tác là:

 
 

Đầu mỗi năm triển khai chủ đề công tác, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đều tổ chức quán triệt đến các tất cả các địa phương, đội ngũ CBCCVC, cán bộ, đảng viên, nhân dân trong tỉnh. Tỉnh cũng yêu cầu các sở, ngành, địa phương phải xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể, gắn với thực tiễn địa phương để thực hiện có hiệu quả chủ đề công tác năm. Định kỳ hàng quý, cấp tỉnh đều có rà soát, đánh giá về việc triển khai thực hiện. Qua đó, tạo được sức mạnh tổng lực, tham gia thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH địa phương.

 

Các chủ đề công tác năm của tỉnh Quảng Ninh đều rất rõ ràng, súc tích, nêu bật được trọng tâm nhiệm vụ thực hiện gắn với quyết tâm đổi mới, phát triển của địa phương; có nhiều quyết sách là điểm nhấn, có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của tỉnh không chỉ 1 năm mà nhiều năm về sau, tạo xung lực cho sự phát triển của tỉnh.

Đơn cử, năm 2013, tỉnh chuẩn bị các điều kiện để thành lập các Trung tâm phục vụ hành chính công và thành lập Đại học Hạ Long. Năm 2014, xây dựng Đề án “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế” (Đề án 25). Năm 2015, toàn tỉnh tạo ra một “làn sóng thi đua” thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ, tăng cường công tác quản lý CBCCVC. Năm 2016, tập trung nâng cao chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công (PAPI), đẩy mạnh thực hiện Chính quyền điện tử, xây dựng Đề án thành phố thông minh. Năm 2017, tỉnh tập trung rà soát, tăng cường kỷ luật kỷ cương hành chính trong toàn bộ máy, chấn chỉnh kịp thời các hành vi nhũng nhiễu nhân dân, doanh nghiệp một bộ phận CBCCVC, cơ quan công quyền các cấp. Năm 2018, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết 12-NQ/TU (ngày 12/3/2018) về bảo vệ môi trường tỉnh giai đoạn 2018-2022; tăng cường công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, trong đó, nghiêm cấm đối với hành vi đánh bắt thủy, hải sản bằng hình thức tận diệt. Năm 2019, Quảng Ninh tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch, dịch vụ; chấn chỉnh, xử lý nghiêm các hành vi “chặt chém”, ép giá khách du lịch của các cơ sở kinh doanh; xây dựng môi trường du lịch thân thiện.

 
 

Năm 2020 - năm có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, kế hoạch 5 năm 2016-2020, thực hiện chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2011-2020. Để hoàn thành cao nhất các nhiệm vụ đặt ra, tiếp tục thực hiện mạnh mẽ các đổi mới, đột phá chiến lược, tạo đà bứt phá trong giai đoạn mới, tỉnh chọn chủ đề công tác năm 2020 là “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức; bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững”. Đối với nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC, tỉnh đã ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng với 179 lớp đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước, với tổng số 12.288 học viên, tổng kinh phí là 57,67 tỷ đồng.

Cùng với đó đã chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hoá, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ bảo đảm 100% CB,CC,VC ở các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định hiện hành. Các cơ quan, đơn vị, địa phương đã hoàn thành việc rà soát, bổ sung quy hoạch CB,CC,VC thuộc thẩm quyền quản lý nhiệm kỳ 2015-2020 (2016-2021), nhiệm kỳ 2020-2025 (2021-2026); đảm bảo đội ngũ CB,CC,VC đưa vào quy hoạch đáp ứng năng lực, phẩm chất, tiêu chuẩn, điều kiện của chức danh quy hoạch; tiếp tục thực hiện công tác cán bộ, lựa chọn đội ngũ cán bộ thông qua trình bày đề án và thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý;...

Đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, dù trong bối cảnh dịch Covid-19 có diễn biến phức tạp, tác động xấu đến cả nền kinh tế, nhưng với các giải pháp điều hành linh hoạt, tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn đạt mức cao so với bình quân chung của cả nước (6 tháng đầu năm đạt 5,7%); thu ngân sách cơ bản đảm bảo theo chỉ tiêu giao thu.

Xuyên suốt 8 năm thực hiện các chủ đề công tác năm, Quảng Ninh đã có những bước phát triển đáng tự hào. Là địa phương có 7 năm liên tiếp trong nhóm 5 tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành kinh tế xuất sắc nhất cả nước. GRDP bình quân đầu người ước đạt trên 6.700 USD/người/năm, gấp hơn 2 lần bình quân chung cả nước. Chỉ số ICOR (hệ số sử dụng vốn) của tỉnh từ 8,03 giai đoạn 2011-2015 giảm còn 4,34 giai đoạn 2016-2019; là tỉnh có số vốn đầu tư trong nước, trực tiếp nước ngoài cao của cả nước. Quảng Ninh liên tiếp 3 năm gần đây (2017,2018,2019) là quán quân Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số Cải cách hành chính (Par Index), năm 2019 đứng thứ 3 toàn quốc chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI).

Tỉnh được Trung ương đánh giá có những bước tiến lớn trong xây dựng chính quyền điện tử, thành phố thông minh. Sự tin tưởng của người dân vào bộ máy chính quyền ngày càng cao. Công tác quy hoạch được quan tâm, toàn tỉnh có 13 đô thị, tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 65,5%, là một trong 5 địa phương có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất cả nước. Tỷ lệ phủ kín quy hoạch chung đô thị đạt 100%, quy hoạch phân khu các địa phương đạt 56,6%, quy hoạch chi tiết xây dựng các địa phương đạt 56,9%, quy hoạch nông thôn mới đạt 100%.

Công tác bảo vệ môi trường, xử lý ô nhiễm đạt hiệu quả; môi trường Vịnh Hạ Long ngày càng xanh, sạch hơn; các danh lam, thắng cảnh được bảo tồn, phát triển tốt hơn. Quảng Ninh đã trở thành điểm đến hấp dẫn không chỉ của nhà đầu tư mà còn của du khách trong và ngoài nước.

Hồng Nhung

Trình bày: Hải Anh

 

Định vị rõ những mâu thuẫn, thách thức lớn trong quá trình phát triển, Quảng Ninh quyết tâm chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh” từ rất sớm. Tỉnh cũng là một trong những địa phương đi đầu cả nước theo đuổi mô hình mới này (từ đầu nhiệm kỳ 2010-2015).  Sau gần 1 thập kỷ thực hiện, đã xây dựng nên một hình ảnh Quảng Ninh đổi mới, năng động hơn, kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững gắn chặt chẽ với bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Năm 2013, trong bài viết của mình với nội dung “Một số nhận thức ban đầu về tăng trưởng xanh của Quảng Ninh”, đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh đã khẳng định: Quảng Ninh lựa chọn con đường tăng trưởng xanh nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Sự lựa chọn này phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với các định hướng phát triển dài hạn của đất nước, phù hợp với đặc thù của Quảng Ninh; và điều quan trọng nhất đó là phù hợp với ý chí nguyện vọng của nhân dân các dân tộc Quảng Ninh. Quan điểm xuyên suốt trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Quảng Ninh là vừa làm vừa đúc rút kinh nghiệm, vừa làm vừa điều chỉnh cho hợp lý, kết hợp hài hoà và hợp lý; giữ gìn, tôn trọng giá trị cũ để từ đó kế thừa, phát huy và với những sáng kiến mới để điều chỉnh hướng đến mục tiêu mới, cách làm mới; nhằm xử lý hiệu quả mối quan hệ biện chứng giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển.

Cảng tàu khách nhân tạo Tuần Châu là cửa ngõ của di sản - kỳ quan thế giới Vịnh Hạ Long.
Cảng tàu khách nhân tạo Tuần Châu là cửa ngõ của di sản - kỳ quan thế giới Vịnh Hạ Long.

Thật vậy, với điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế, Quảng Ninh là tỉnh có tốc độ phát triển nhanh trong cả nước, tăng trưởng kinh tế (GDP) luôn ở mức ổn định trên 10%, thu ngân sách Nhà nước đứng trong tốp 6 các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước, thu nhập bình quân đầu người cao hơn so với bình quân cả nước;... Tuy nhiên, chính trong quá trình phát triển, tỉnh đã sớm nhận ra những mâu thuẫn và thách thức to lớn, mà nếu không được giải quyết căn cơ, sẽ trở thành “bước lùi”, không chỉ khiến nền kinh tế phát triển mất cân đối, mà còn khiến nguồn tài nguyên kiệt quệ, môi trường bị đe dọa,... Những mâu thuẫn, thách thức cơ bản đã được chỉ ra, như: Giữa việc khai thác than, phát triển công nghiệp nặng với phát triển du lịch, dịch vụ trên cùng một địa bàn; giữa phát triển công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh với giải quyết vấn đề môi trường sống; giữa phát triển bền vững trước những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao;...

Đây là lý do vì sao, Quảng Ninh quyết tâm là địa phương tiên phong trong cả nước thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”. Năm 2012, tỉnh bắt tay thực hiện “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050” ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược này.

 
 

Tỉnh cũng đã ban hành Kế hoạch triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 với mục tiêu: Phát triển kinh tế nhanh, bền vững; chuyển dịch và tăng tốc độ phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp “xanh”; kiểm soát ô nhiễm môi trường; nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu; hướng đến một nền kinh tế các-bon thấp, giảm phát thải và tăng lượng hấp thụ khí nhà kính. Đồng thời, tỉnh cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014-2020 để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và quyết tâm triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh của tỉnh.

Quảng Ninh thực hiện chiến lược tăng trưởng mới, với cách làm mới, có thể nói là một sự đổi mới hoàn toàn về tư duy, tầm nhìn. Tỉnh là địa phương đầu tiên trong cả nước được Chính phủ cho phép thuê đơn vị tư vấn nước ngoài lập đồng bộ các quy hoạch chiến lược phát triển đến giai đoạn 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Các bản quy hoạch tầm nhìn dài hạn, nhấn mạnh rõ mục tiêu chuyển đổi phương thức từ “nâu” - nặng về công nghiệp khai khoáng, sang “xanh” - phát triển dịch vụ du lịch, công nghệ cao.

Đô thị Hạ Long phát triển theo hướng
Đô thị Hạ Long phát triển theo hướng "xanh", chú trọng các ngành du lịch, dịch vụ.

Cùng với đó, tỉnh tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng cơ chế, chính sách thu hút, phát triển nguồn nhân lực; chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, tạo bước đột phá xây dựng các công trình có tính chất động lực; cải thiện môi trường, thu hút vốn FDI, ODA; cải cách hành chính phục vụ phát triển xanh, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, thành lập trung tâm dịch vụ hành chính công; đầu tư cho phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao cùng với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để từng bước hình thành và phát triển kinh tế tri thức; chú trọng giải pháp cơ cấu ngành và địa phương theo hướng “xanh”...

Những quyết tâm của Quảng Ninh trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh đến nay đã đạt được những kết quả quan trọng, thể hiện rõ nét nhất là sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế của tỉnh.

Theo đó, giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng bình quân của tỉnh đạt 9,2%/năm, giai đoạn 2016-2019 đạt 10,9%, cao hơn so với bình quân chung cả nước. Đến năm 2020, quy mô nền kinh tế tăng nhanh, đạt 211.476 tỷ đồng, tăng gấp 1,86 lần so với năm 2015; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng bền vững so với năm 2015: Tỷ trọng khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm tăng từ 43,1% lên 44,6%; công nghiệp - xây dựng duy trì ổn định ở mức 49%; nông, lâm, thủy sản giảm từ 7,7% xuống 5,9%. Tổng thu ngân sách Nhà nước 5 năm ước đạt hơn 212.492 tỷ đồng, tăng 29,56% so với giai đoạn 2011-2015.

 
 

Đáng chú ý, đóng góp vào thu nội địa của ngành Than mặc dù vẫn chiếm tỷ trọng lớn, song có xu hướng giảm dần (năm 2011 chiếm 67%, năm 2014 chiếm  47%, dự kiến 2020 chiếm 44%). Tỷ trọng đóng góp ngành khai khoáng trong GRDP giảm dần từ 21,3% năm 2015 xuống còn 17,3% năm 2020, phù hợp với lộ trình đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh” của tỉnh. Giá trị tăng thêm ngành chế biến, chế tạo bình quân tăng 15%/năm, cao hơn so với giai đoạn trước (10%/năm), chiếm 9,6% trong cơ cấu kinh tế (năm 2015 là 7,9%). Giá trị tăng thêm của ngành xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 45.823 tỷ đồng, tốc độ bình quân tăng 17%/năm, đóng góp 6,0% GRDP của tỉnh. 

Quảng Ninh đã từng bước thực hiện lộ trình kết thúc khai thác than lộ thiên theo quy hoạch của Chính phủ. Đồng thời, quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác, sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và khoáng sản phân tán nhỏ lẻ theo hướng bền vững; thực hiện lộ trình chấm dứt khai thác đá vôi để giữ gìn cảnh quan. Song song với đó, tỉnh hoàn thành xử lý 100% các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 100% các khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung; 80% nước thải từ hoạt động khai thác than đã được xử lý, hầu hết các bãi thải mỏ không còn hoạt động đã được hoàn nguyên môi trường; tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải ở đô thị đạt trên 90%...

Ngành Than ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại trong khai thác, hướng tới
Ngành Than ứng dụng nhiều công nghệ hiện đại trong khai thác, hướng tới "mỏ xanh, mỏ hiện đại, mỏ sản lượng cao".

Những động lực phát triển mới trên bức tranh kinh tế của Quảng Ninh ngày càng nổi bật hơn, thế mạnh về du lịch, dịch vụ được khơi thông hiệu quả hơn. Quảng Ninh là địa phương có số vốn đầu tư trong nước, trực tiếp nước ngoài cao của cả nước, với các nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm trong lĩnh vực dịch vụ, du lịch, chế biến, chế tạo, công nghệ cao, công nghiệp sạch, như: Vingroup, Sun Group, FLC, CEO, BIM Group, Tuần Châu Group, TH, Amata, Texhong, Yazaki, TCL, Foxconn, Thành Công...

Di sản - Kỳ quan thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, các di tích quốc gia đặc biệt và trên 600 di tích khác của tỉnh được quan tâm đầu tư, bảo tồn, phát huy bền vững giá trị gắn với phát triển du lịch. Quảng Ninh, Hạ Long trở thành điểm đến có uy tín cho các sự kiện cấp quốc gia, quốc tế.

Hồng Nhung

Trình bày: Hải Anh

 

Trong quá trình xây dựng và phát triển, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh luôn luôn coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và đối với công tác xây dựng Đảng nói riêng. Đảng bộ tỉnh coi việc củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, chính quyền với nhân dân là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Từ đó, tỉnh đã cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của Nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của tỉnh, của đất nước; bảo đảm nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; tạo sự đồng thuận xã hội.

Năm 2019 là năm thứ 3 liên tiếp tỉnh Quảng Ninh giữ vị trí dẫn đầu 63 tỉnh, thành phố về Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX); Chỉ số đo lường sự hài lòng của người dân về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) của tỉnh cũng có sự thăng hạng xuất sắc khi vươn lên vị trí dẫn đầu toàn quốc. Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2019 của Quảng Ninh cũng có sự cải thiện đáng kể cả về điểm số và thứ hạng của từng trục nội dung, xếp thứ 3/63 tỉnh, thành phố.

Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông (ICT) sau 4 năm đứng ở vị trí thứ 4 đã vươn lên vị trí thứ 3 toàn quốc. Cũng trong năm 2019, tỉnh Quảng Ninh vinh dự là một trong 3 địa phương của cả nước được Thủ tướng Chính phủ chọn thực hiện thí điểm việc kết nối liên thông với Cổng dịch vụ công quốc gia.

Phát biểu tại Hội nghị phân tích các chỉ số PAR INDEX, SIPAS, PAPI, ICT và công bố kết quả xếp hạng các chỉ số của sở, ngành, địa phương năm 2019 tổ chức tháng 6/2020, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Xuân Ký khẳng định, kết quả tích cực của các chỉ số PAR INDEX, SIPAS, PAPI, ICT là thành quả từ sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên trì, quyết liệt của nhiều thế hệ lãnh đạo tỉnh, sự nỗ lực cố gắng của hệ thống chính trị toàn tỉnh trong việc phục vụ tốt nhất cho người dân, doanh nghiệp.

Những năm vừa qua, người dân và doanh nghiệp trong tỉnh ngày càng cảm nhận được những thay đổi tích cực trong cách thức tiếp cận, cung ứng các dịch vụ công của chính quyền các cấp tỉnh Quảng Ninh. Với mục tiêu “Lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hoạt động”, Quảng Ninh đã thực sự đặt người dân làm chủ thể để triển khai các hoạt động. Từ kết quả điều tra về các nhóm nội dung trong bộ chỉ số PAPI, Quảng Ninh nhận thấy, việc gỡ bỏ những “rào cản” từ sự chưa hài lòng của người dân về hiệu quả điều hành, quản lý nhà nước, thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công của chính quyền các cấp chính là giải pháp quan trọng để nâng cao niềm tin và sự hài lòng của nhân dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền và nhân dân.

Theo kết quả PAPI Quảng Ninh năm 2019, 5/8 nội dung được xếp ở nhóm có điểm số cao nhất cả nước, gồm: Tham gia của người dân ở cơ sở; công khai minh bạch; kiểm soát tham nhũng trong khu vực công; cung ứng dịch vụ công và quản trị môi trường. Đó là kết quả của quá trình nỗ lực xây dựng chính quyền phục vụ, “lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hoạt động”, đó là cộng hưởng của giá trị niềm tin từ nhân dân trước tinh thần không ngừng đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của lãnh đạo tỉnh, của đội ngũ CB,CC,VC, của vận hành hoạt động hiệu lực, hiệu quả hệ thống chính trị tỉnh Quảng Ninh. Qua phân tích 8 trục nội dung đánh giá của bộ chỉ số PAPI hằng năm, tỉnh nhận định việc tạo niềm tin cho người dân mấu chốt phải từ yếu tố con người; trong đó đội ngũ CB,CC,VC từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh phải gần dân, sát dân, trọng dân, thái độ, tinh thần phục vụ nhân dân.

Vì vậy, tỉnh đã đổi mới mạnh mẽ các khâu trong công tác cán bộ, hoàn thành xây dựng vị trí việc làm, nâng cao chất lượng về mọi mặt của đội ngũ CB,CC,VC, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đồng thời tỉnh tiến hành rà soát, bổ sung quy định rõ và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện đổi mới, sáng tạo, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu doanh nghiệp, người dân.

Xuất phát từ quyết tâm “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh tăng cường sáng tạo, đổi mới, thực hiện các chủ trương, chính sách bảo đảm hài hòa các quyền lợi của người dân, chính quyền và doanh nghiệp. Trong những năm gần đây, tỉnh Quảng Ninh đã có những sáng tạo nhằm tạo sự đột phá về phát triển kinh tế - xã hội như: Chủ động dùng ngân sách tỉnh để giải phóng mặt bằng và linh hoạt hóa các nguồn lực để làm các công trình dự án hạ tầng giao thông, du lịch nhằm tạo nền tảng cho sự bứt phá của nền kinh tế; quyết liệt trong cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh, dành nguồn lực thỏa đáng đầu tư cho an sinh xã hội... Chỉ tính riêng từ năm 2018 đến nay, Quảng Ninh đã hoàn thành một số dự án, công trình giao thông có tính động lực cao, góp phần thay đổi diện mạo đô thị và trở thành điểm đến tham quan hấp dẫn của nhân dân trong tỉnh, cũng như du khách trong và ngoài nước như: Sân bay Vân Đồn, cầu Bạch Đằng, đường nối TP Hạ Long với cầu Bạch Đằng, cao tốc Hạ Long - Vân Đồn, đường Trần Quốc Nghiễn... Đồng thời, tỉnh cũng xây dựng cơ chế, chính sách, thu hút các nhà đầu tư, triển khai xây dựng phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp các công trình sản xuất công nghiệp có vai trò động lực.

Song song với đó, tỉnh cũng có những quyết sách quan trọng để đẩy mạnh phát triển vùng nông thôn, miền núi, kéo gần sự chênh lệch giữa các địa phương trong tỉnh. Điển hình là trong xây dựng nông thôn mới. Năm 2010, khi Quảng Ninh chính thức bắt tay vào xây dựng nông thôn mới tỉnh đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Năm đó trên địa bàn có 53 xã khó khăn, trong đó có 22 xã đặc biệt khó khăn; đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn còn ở mức thấp, khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn còn lớn, thu nhập bình quân khu vực nông thôn mới đạt 10,98 triệu đồng/người/năm... Số xã đạt trên 75% Bộ tiêu chí mới có 26 xã (chiếm 20,8%). Đó chưa kể đến quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, lạc hậu, thiếu ứng dụng khoa học công nghệ cũng như liên kết sản xuất còn mơ hồ, chủ yếu tự cung tự cấp.

Trồng rau theo mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở xã Quảng Tân, huyện Đầm Hà.
Trồng rau theo mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở xã Quảng Tân, huyện Đầm Hà.

Trước thực trạng này, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 27/10/2010 xác định “Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội...”. Toàn tỉnh đã dồn tâm, dồn sức cho chương trình. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã mạnh dạn giao quyền tự chủ về tới tận xã/thôn, giúp bộ máy chính trị - xã hội chủ động bàn bạc với người dân tìm giải pháp thực hiện - theo đúng tôn chỉ “dân làm chủ” của chương trình.

Cùng với đó, hàng loạt mô hình đổi mới trong xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị đã được Quảng Ninh thực hiện như: Nhất thể hóa các chức danh; hợp nhất các cơ quan khối đảng và chính quyền có nhiệm vụ tương đồng; thành lập cơ quan khối MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội ở các cấp; thực hiện mô hình bí thư kiêm trưởng thôn, khu ở 100% thôn, khu, bản trên địa bàn tỉnh… Đây đều là những mô hình đã được chứng minh tính hiệu quả trong thực tế; được nhân dân đánh giá cao và một số mô hình đã được trung ương nhân rộng ra cả nước.

Nhân dân tin Đảng và đi theo Đảng cũng bởi uy tín, niềm tin, khả năng thuyết phục của Đảng đối với xã hội. Sức thuyết phục đó được biểu hiện bằng đường lối chính trị đúng đắn của Đảng, bằng hành động gương mẫu của đội ngũ đảng viên, cán bộ của Đảng; bằng nói đi đôi với việc làm; bằng những lợi ích thiết thực mà Đảng đem lại cho mỗi con người, cho quần chúng nhân dân. Chính vì thế, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn để ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, đã chủ trì buổi tiếp công dân định kỳ tháng 9/2020
Đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, đã chủ trì buổi tiếp công dân định kỳ tháng 9/2020

Tỉnh ủy và các cấp ủy, tổ chức đảng đã nghiêm túc quán triệt, triển khai Nghị quyết Đại hội XII và các nghị quyết của Trung ương. Từ đó, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày 16/4/2008, với mục tiêu cơ bản là: Xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo sự chuyển biến về “chất”, bảo đảm tổ chức đảng ở cơ sở vững mạnh, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh ở cơ sở. Đồng thời, kiện toàn, sắp xếp tổ chức của hệ thống chính trị đồng bộ, thống nhất; củng cố cơ sở yếu kém, xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên ở những nơi chưa có và còn ít đảng viên và tổ chức đảng; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên tận tụy, gương mẫu, có phẩm chất và năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ, trước hết là xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên và bí thư cấp uỷ bảo đảm tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới cao hơn.

Thực hiện các kết luận của Trung ương, Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp ủy từ cơ sở xây dựng Đề án “Về đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế” và ban hành Nghị quyết 19-NQ/TU ngày 03/3/2015; ban hành Quy định số 07-QĐ/TU ngày 20/02/2019 về Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ủy viên ban thường vụ các huyện, thị, thành ủy và đảng ủy xã, phường, thị trấn dự sinh hoạt chi bộ thôn, khu phố... Cùng với đó, Tỉnh ủy và các cấp ủy đã ban hành các quy chế về quản lý cán bộ, các quy định về tiêu chuẩn chức danh, về kiểm điểm tự phê bình và đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên; xây dựng, ban hành đề án và dành nhiều nguồn lực cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đoàn công tác của Ủy ban MTTQ tỉnh làm việc với UBND thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, để giám sát việc thực hiện các giải pháp nâng cao Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (Chỉ số PAPI).

Đoàn công tác của Ủy ban MTTQ tỉnh làm việc với UBND thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, để giám sát việc thực hiện các giải pháp nâng cao Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (Chỉ số PAPI).

Cùng với đó, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy đã ban hành nhiều kết luận chỉ đạo về xây dựng tổ chức đảng, kết nạp đảng viên, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ; Chỉ đạo công tác xây dựng Đảng một cách đồng bộ trên các phương diện (tư tưởng, chính trị và tổ chức); đã ban hành Nghị quyết về một số giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng trong tình hình mới.

Đặc biệt, xác định tầm quan trọng và tính chất của công tác dân vận, Tỉnh ủy ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, các văn bản để đối mới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, vai trò của lực lượng vũ trang trong công tác dân vận.

Nội dung, phương thức thực hiện công tác dân vận ngày càng được đổi mới, trở thành nhiệm vụ thường xuyên gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức. Trong đó, thực hiện việc thể chế hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, bảo đảm nguyên tắc mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đổi mới nội dung và hình thức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng chính sách, pháp luật; rà soát, kiện toàn, bổ sung Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; bổ sung, sửa đổi và ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo giai đoạn 2015-2020...

Hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước được tập trung đổi mới theo hướng tăng cường hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch, dân chủ, thân thiện và gần dân; tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước theo quy định bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức đại diện của mình. Các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tiến hành tố tụng thường xuyên thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, điều ưa các vụ việc vi phạm có liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức nhằm ổn định tình hình, tăng niềm tin của nhân dân với Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội, nâng cao hiệu quả tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân.

Lãnh đạo TP Hạ Long trực tiếp gặp gỡ để đối thoại, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của các hộ dân liên quan đến GPMB dự án đường nối KCN Cái Lân với cao tốc Hạ Long  Vân Đồn

Lãnh đạo TP Hạ Long trực tiếp gặp gỡ để đối thoại, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của các hộ dân liên quan đến

GPMB dự án đường nối KCN Cái Lân với cao tốc Hạ Long Vân Đồn

Trước khi ban hành các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát động phong trào…, các cấp ủy, chính quyền cơ sở đã mở rộng dân chủ để nhân dân tham gia bàn bạc, quyết định về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, hưởng ứng các phong trào. Thông qua đó, ý thức làm chủ của người dân được thể hiện tốt hơn. Người dân tích cực tham gia vào các phong trào, phần việc của địa phương, như: Xây dựng nông thôn mới; xây dựng đô thị văn minh; vệ sinh môi trường… Nhân dân tích cực tham gia đóng góp kinh phí, hiến đất, kiến trúc, hoa màu để xây dựng kết cấu hạ tầng. Điều này thể hiện rõ nét khi trục nội dung tham gia của người dân ở cơ sở của tỉnh đạt mức cao nhất cả nước.

Công tác tiếp công dân được bí thư cấp ủy, các cấp chính quyền và các cơ quan chuyên môn thực hiện đảm bảo theo quy định: Cấp tỉnh tiếp công dân ngày 15 hằng tháng; cấp huyện tiếp công dân vào ngày 01 và 15 hằng tháng; cấp xã tiếp công dân vào thứ năm hằng tuần. Chính quyền các cấp đều có quy chế tiếp công dân; bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất làm công tác tiếp dân; mở rộng các kênh tiếp nhận các ý kiến góp ý, phản ánh của người dân, doanh nghiệp; tăng cường đối thoại, gặp gỡ, tiếp xúc với nhân dân để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, kịp thời chỉ đạo giải quyết những vướng mắc, bất cập, bức xúc ngay từ cơ sở. Việc tổ chức giao ban giữa cấp ủy, chính quyền với bí thư chi bộ, trưởng thôn, khu, trưởng ban công tác mặt trận được duy trì thường xuyên, theo định kỳ; các vấn đề nhân dân quan tâm được phản ánh thông qua đội ngũ bí thư chi bộ, trưởng thôn, bản, khu phố, trưởng ban công tác mặt trận được cấp ủy, chính quyền giải quyết kịp thời. Việc tổ chức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng các dự án luật, các văn bản quy phạm pháp luật; lấy ý kiến nhân dân tham gia về quy hoạch, về các dự án phát triển kinh tế - xã hội,… được quan tâm thực hiện, bảo đảm quy định.

Điển hình ở TP Móng Cái, các xã, phường đã cụ thể hoá nội dung của Pháp lệnh 34 thành hương ước, quy ước để nhân dân thực hiện. 100% thôn, khu đã tổ chức cho nhân dân bàn và tham gia vào dự thảo quy ước đảm bảo đúng quy trình, hướng dẫn của UBND thành phố. Thị xã Quảng Yên đã triển khai cho nhân dân tham gia xây dựng hương ước, quy ước tại 179 thôn, khu phố, UBND thị xã phê duyệt, cấp kinh phí hỗ trợ việc in ấn, tuyên truyền để các hộ dân thực hiện.

Hội thi Dân vận khéo tỉnh Quảng Ninh năm 2020 cụm miền Đông.
Hội thi Dân vận khéo tỉnh Quảng Ninh năm 2020 cụm miền Đông.

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và vận động nhân dân hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ và đạt nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống chính trị được củng cố, hoạt động ngày càng hiệu quả; cán bộ, công chức, đảng viên tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lòng tin trong nhân dân tiếp tục được củng cố, đóng góp quan trọng vào việc ổn định, bảo vệ và phát triển tỉnh Quảng Ninh.

Thiện Cát 

Trình bày: Hải Anh

< >
;
.
.