.

“Những kết quả nghiên cứu khảo cổ học vùng chiến trường Bạch Đằng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt này...”

Cập nhật lúc 05:09, Chủ Nhật, 03/02/2013 (GMT+7)

(Tiến sĩ Lê Thị Liên, Viện Khảo cổ học, trả lời phỏng vấn CTV Báo Quảng Ninh)

Tiến sĩ Lê Thị Liên là người đã có nhiều năm nghiên cứu, khảo cổ học vùng chiến trường Bạch Đằng ở Quảng Ninh. Và vì thế, việc di tích lịch sử Bạch Đằng được xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt, bà tỏ ra rất vui. Trao đổi với chúng tôi, bà nói:

+ Di tích Bạch Đằng đã được quan tâm nghiên cứu về khảo cổ học từ cuối những năm 50 của thế kỷ trước, khi nhân dân Yên Hưng (nay là TX Quảng Yên) phát hiện hàng ngàn cây cọc trong quá trình đắp đê và sản xuất nông nghiệp. Đến những năm 1980-1990, các kết quả của việc nghiên cứu so sánh giữa tư liệu lịch sử, bia kí, truyền thuyết, ca dao, thơ ca với các di tích lịch sử và di tích khảo cổ học đã góp phần phục dựng lại một phần bức tranh lịch sử của trận chiến thắng lẫy lừng này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều câu chuyện xung quanh sự kiện này mà ngày nay chúng ta chưa biết và muốn biết. Chính vì thế, từ năm 2005 đến nay, các cuộc khảo sát và nghiên cứu tiếp tục được tiến hành trong khu vực TX Quảng Yên, đặc biệt là trong khu vực hai phường Nam Hoà và Yên Hải. Các phương pháp nghiên cứu mới, sử dụng các thiết bị tiên tiến như máy GPS để xác định vị trí các di tích, máy siêu âm quét cạnh và thiết bị đo từ trường để khảo sát các vật thể lạ dưới đáy sông hoặc trong lòng đất, khoan thăm dò để nghiên cứu sự biến đổi của dòng chảy và địa hình cổ v.v... đã giúp chúng ta hiểu được địa hình, địa mạo, môi trường cảnh quan xưa kia và hiểu được chiến lược và chiến thuật mà Trần Hưng Đạo đã vạch ra cho trận đánh. Bên cạnh đó, các cuộc khai quật khảo cổ học tiếp tục được thực hiện và chúng ta đã phát hiện thêm bãi cọc thứ ba ở Đồng Má Ngựa. Điều lý thú là ở bãi cọc này, lần đầu tiên chúng ta phát hiện được các di vật có tuổi tương đương với thời kỳ xảy ra trận đánh, như rất nhiều các mảnh sành, sứ thời Trần, mảnh sứ men ngọc thời Nguyên. Dấu vết các lớp tồn tích chứa nhiều than vụn, các mảnh gỗ có vết chế tác, mảnh mái chèo, những cụm cọc được đóng rất hiểm hóc cả dưới đáy sông lẫn ven bờ phủ đầy phù sa lầy thụt, những dãy cọc ken dày giống như một kiểu “Vạn Lý Trường Thành dưới nước” v.v... phát hiện trong khu di tích là những bằng chứng xác thực cho câu chuyện của “Người lính già đầu bạc, kể mãi chuyện Nguyên Phong”...

Tiến sĩ Lê Thị Liên cùng các cộng sự và chuyên gia Nhật Bản khảo sát khai quật di tích Bãi cọc Bạch Đằng tại Đồng Má Ngựa, phường Nam Hoà (Quảng Yên).
Tiến sĩ Lê Thị Liên cùng các cộng sự và chuyên gia Nhật Bản khảo sát khai quật di tích Bãi cọc Bạch Đằng tại Đồng Má Ngựa, phường Nam Hoà (Quảng Yên).

- Được biết, các đợt nghiên cứu, thám sát, khảo cổ học vùng chiến trường Bạch Đằng vào các năm từ 2009-2012 của Viện Khảo cổ học do Tiến sĩ chủ trì đều có sự hợp tác quốc tế của các chuyên gia đến từ nhiều quốc gia như Nhật Bản, Mỹ, Anh, Úc... Theo bà, vì sao các chuyên gia khảo cổ học quốc tế lại rất quan tâm tới vùng chiến trường Bạch Đằng nơi đây?

+ Theo tôi, lý do đầu tiên mà các nhà nghiên cứu quốc tế quan tâm vì đây là một di tích nổi tiếng của trận chiến thắng chống quân Nguyên - Mông do Trần Hưng Đạo, một trong những chiến lược gia quân sự hoàn hảo nhất trong lịch sử thế giới tổ chức. Một đoàn thuyền chiến của quân Nguyên - Mông cũng đã kéo đến bờ biển Takashima của Nhật Bản vào năm 1281, mưu đồ thôn tính nước này. Nhưng một cơn bão và sóng thần đã nhấn chìm toàn bộ đoàn thuyền. Các nghiên cứu ở Bạch Đằng và ở Takashima sẽ góp phần hiểu biết hơn về các cuộc xâm lược này. Đồng thời, với khả năng phát hiện các dấu tích tàu đắm ở Bạch Đằng, việc nghiên cứu so sánh các di tồn ở hai khu di tích sẽ đóng góp to lớn cho việc nghiên cứu về kỹ thuật đóng tàu và lịch sử hàng hải quốc tế.

Lý do thứ hai là các nhà nghiên cứu quốc tế đánh giá cao đặc điểm độc đáo về loại hình di tích, vốn là khu vực ngập nước, nay do tác động của con người và thiên nhiên, đã trở thành di tích trên cạn. Việc thử nghiệm và phát triển các phương pháp và thiết bị nghiên cứu cho loại hình di tích này là một đóng góp về phương pháp luận cho ngành khảo cổ học dưới nước nói chung và góp phần vào việc phát triển ngành khảo cổ học dưới nước của Việt Nam nói riêng. Khảo cổ học dưới nước là một ngành mới phát triển mạnh vào những năm 80 của thế kỷ trước. Các đòi hỏi cao về kĩ năng, phương pháp, thiết bị được giải quyết bằng việc phối hợp, hợp tác giữa các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, đang làm việc ở nhiều trung tâm khác nhau cho từng trường hợp cụ thể. Khu di tích Bạch Đằng là một ví dụ về phương pháp hợp tác rất hiệu quả này...

- Vậy trong quá trình hợp tác quốc tế để khảo sát khảo cổ học, bà thấy có những thuận lợi và khó khăn gì?

+ Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khảo cổ học là một xu hướng và nhu cầu chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Các chuyên gia quốc tế áp dụng các phương pháp và phương tiện tiên tiến hơn, giúp chúng ta thu được nhiều kết quả hơn và triệt để hơn các thông tin khoa học, đồng thời có cái nhìn khách quan trong bối cảnh rộng hơn, có nhiều đối tượng để so sánh hơn. Ngược lại, các nhà nghiên cứu văn hoá địa phương, các nhà khảo cổ học Việt Nam có khả năng cung cấp những thông tin văn hoá và lịch sử phong phú, đa dạng và các kinh nghiệm địa phương rất hữu ích, giúp cho nhóm nghiên cứu nhanh chóng nối kết các nguồn thông tin để hiểu về di tích một cách đầy đủ và chính xác hơn.

Khó khăn cơ bản của chúng ta hiện nay là rào cản ngôn ngữ, nó khiến cho một số bạn trẻ chưa làm việc trực tiếp được với các chuyên gia. Chúng ta cũng chưa có đủ lực lượng và ngân sách đối ứng để đảm bảo tiếp thu, duy trì và mở rộng các kết quả đã đạt được. Ví dụ, sau khi phát hiện và nghiên cứu các di vật hữu cơ, hệ thống bảo tàng, kho chứa, nhân viên kĩ thuật v.v của chúng ta chưa đủ để tiếp tục xử lý và bảo tồn, bảo quản các hiện vật này...

- Trong điều kiện ấy, những kết quả nghiên cứu khảo cổ học vùng chiến trường Bạch Đằng có ý nghĩa như thế nào đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt Bạch Đằng hiện nay, thưa bà?

+ Di tích Bạch Đằng có vai trò quan trọng trong lịch sử cũng như đời sống tinh thần của người Việt. Những kết quả nghiên cứu mới đây sẽ là kho thông tin quý giá giúp cho các nhà quản lý hiểu rõ hơn phạm vi phân bố, tính chất và đặc điểm cũng như giá trị của từng khu vực trong khu di tích, từ đó có kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị đúng mức, cân đối giữa việc sử dụng đất đai cho phát triển kinh tế, các ngành nghề sản xuất và các khu vực cần bảo vệ, giữ nguyên cảnh quan của chiến trường xưa. Chúng cũng giúp cho ngành văn hoá và ngành giáo dục có thêm nhiều tư liệu, “nguyên liệu” phục vụ cho công tác trưng bày, diễn giải, giáo dục cho công chúng và tầng lớp thanh thiếu niên về niềm tự hào dân tộc đối với các chiến công hiển hách của cha ông.

Bên cạnh đó, Di tích Bạch Đằng nằm trong một chuỗi các di tích văn hoá quan trọng từ Hà Nội đến Hạ Long, di sản - kỳ quan thiên nhiên thế giới. Khu di tích lại phân bố trong một vùng đất giàu có các loại hình di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, với cộng đồng dân cư có niềm tự hào sâu sắc đối với lịch sử quê hương và giàu vốn văn hoá của cha ông. Đây chính là những tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và du lịch cho tỉnh Quảng Ninh nói chung và TX Quảng Yên nói riêng. Nếu khai thác đúng hướng một cách bền vững, khu di tích sẽ góp phần to lớn vào việc phát triển du lịch, ngành công nghiệp không khói của Quảng Ninh…

- Xin cảm ơn bà về cuộc trò chuyện này!

Đình Dũng

,
.
.
.
.
.