Hòa giải tại tòa án: Tiết kiệm chi phí, hạn chế kháng cáo

Thứ Năm, 16/05/2019, 10:23 [GMT+7]
.
.

Trong khuôn khổ Dự án JICA "Hài hòa pháp luật hiện hành và thống nhất áp dụng pháp luật hướng tới năm 2020", ngày 2/5 vừa qua, tại tỉnh Quảng Ninh, TAND Tối cao đã phối hợp với Văn phòng Dự án tại Việt Nam tổ chức tọa đàm “Tăng cường kỹ năng hòa giải cho hòa giải viên” cho hòa giải viên thuộc trung tâm hòa giải, đối thoại của 2 tỉnh là Quảng Ninh và Thái Bình. Tại buổi tọa đàm, với những chia sẻ của chuyên gia Nhật Bản - quốc gia có bề dày lịch sử trong hòa giải, là kinh nghiệm quý giúp Việt Nam có thêm nhiều thông tin, nhằm từng bước hoàn thiện mô hình hòa giải.

Những kinh nghiệm quý

Theo một thống kê công tác hòa giải dân sự ở Nhật Bản từ năm 2013-2017, thời gian bình quân một vụ việc hòa giải dân sự khoảng 3-4 tháng. Trong khi đó, thời gian xét xử trung bình của tố tụng dân sự là 8,7 tháng, trong trường hợp có tranh cãi là 12,9 tháng/vụ. Như vậy, thời gian cho một vụ hòa giải ngắn hơn rất nhiều so với giải quyết bằng thủ tục tố tụng. Kết quả công tác hòa giải dân sự năm 2017 tại Nhật Bản cho thấy hiệu quả, khi tỷ lệ giải quyết thông qua hòa giải chiếm 56%, trong đó hòa giải thành chiếm 33% và quyết định thay thế chiếm 23%. Vụ việc về gia đình có tỷ lệ hòa giải thành cao hơn, chiếm 53%, tỷ lệ rút đơn 21%.

Chế độ hòa giải (Chotel) ở Nhật Bản bắt đầu từ thời Edo và được luật hóa vào năm 1890; tuy nhiên, luật này mới quy định việc hòa giải trong giai đoạn tố tụng. Sau đó, từ thực tiễn triển khai, các nhà làm luật của Nhật Bản nhận thấy rằng cần có hòa giải tiền tố tụng, nên năm 1922, Luật Thủ tục hòa giải đầu tiên được ban hành. Hiện tại, 2 luật quan trọng đang có hiệu lực tại Nhật Bản liên quan đến hoạt động hòa giải, đó là Luật Hòa giải các vụ việc dân sự (1951) và Luật Thủ tục giải quyết các vụ việc về quan hệ gia đình (2011).

chuyên gia Nhật Bản chia sẻ kinh nghiệm trong hòa giải tại tòa án.
Chuyên gia Nhật Bản chia sẻ kinh nghiệm trong hòa giải tại tòa án tại buổi tọa đàm ngày 2/5/2019, tổ chức tại tỉnh Quảng Ninh.

Hòa giải ở Nhật Bản được chia thành 2 loại hình lớn, là hòa giải trong tòa án và hòa giải ngoài tòa án. Hòa giải trong tòa án áp dụng cho các vụ việc dân sự, gia đình. Còn hòa giải ngoài tòa án có thể coi là những giải quyết thay thế, quyết định thay thế (ADR) của các cơ quan hành chính hoặc là kết quả hòa giải đối thoại của cơ quan chức năng.

Nếu so sánh thì việc thí điểm Trung tâm hòa giải, đối thoại trực thuộc tòa án của chúng ta tương ứng với hệ thống hòa giải bên trong tòa án của Nhật Bản. Tuy nhiên, loại hình này cũng có những khác biệt. Đơn cử, đối tượng của hòa giải ở Nhật Bản chỉ bao gồm các vụ việc dân sự và gia đình, không bao gồm vụ việc hành chính. Ủy ban hòa giải của Nhật Bản cơ cấu gồm thẩm phán và 2 hòa giải viên. Trong quy trình giải quyết tranh chấp tại Nhật Bản, hòa giải có cả ở giai đoạn tiền tố tụng và sau tố tụng. Tức là, ngay cả khi bước vào tranh tụng, tố tụng, vụ việc vẫn có thể chuyển sang hòa giải để giải quyết. Trong quá trình hòa giải, Ủy ban hòa giải có thể thay mặt các đương sự để đưa ra quyết định thay thế trong những trường hợp đặc biệt. Quyết định thay thế này có hiệu lực như phán quyết của tòa.    

Hòa giải viên ở Nhật Bản được lựa chọn từ người dân, được gọi là công chức không thường trực hoặc công chức nhà nước bán thời gian. Điều đặc biệt là pháp luật Nhật Bản cũng không yêu cầu bắt buộc hòa giải viên phải có kiến thức, am hiểu về pháp luật; không quy định cụ thể về bằng cấp chứng chỉ cần có. Tiêu chuẩn để lựa chọn hòa giải viên là người có nhiều kinh nghiệm đời sống xã hội, hoặc chuyên môn cụ thể. Theo danh sách thống kê nghề nghiệp của hòa giải viên, có đến 33% xuất thân từ luật sư, ngoài ra là cán bộ tư pháp, người có uy tín cao trong xã hội, người nghỉ hưu, nhà quản lý, bác sĩ, chuyên gia... Do không quy định mức lương cố định mà chi trả theo cơ chế thù lao hoặc trả lương theo ngày làm việc thực tế, nên hòa giải viên thường được xem là hoạt động cống hiến cho xã hội; cũng thông qua hoạt động hòa giải để nâng cao hình ảnh, uy tín của mình trong xã hội.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật

Hòa giải, đối thoại là phương thức giải quyết hiệu quả các tranh chấp, không phải mở phiên tòa xét xử, tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của đương sự, Nhà nước và toàn xã hội; hạn chế kháng cáo, kháng nghị, tranh chấp khiếu kiện phức tạp kéo dài, giảm tải cho công tác xét xử của tòa án. Đồng thời, kết quả hoà giải, đối thoại góp phần hàn gắn rạn nứt giữa các đương sự, giữ gìn ổn định trật tự an toàn xã hội, tạo đồng thuận và xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân. Đặc biệt, hòa giải, đối thoại dựa trên nền tảng công tác dân vận là một giải pháp giải quyết tranh chấp hiệu quả, đây là kinh nghiệm của nước ta và nhiều nền tư pháp tiến bộ trên thế giới.

Một buổi hòa giải tại Trung tâm hòa giải, đối thoại (TAND TP Hạ Long).
Một buổi hòa giải tại Trung tâm hòa giải, đối thoại (TAND TP Hạ Long).

Nhận thức được tầm quan trọng của hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính và nhằm nghiên cứu thực trạng hòa giải, đối thoại trong giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương giao TAND Tối cao nghiên cứu xây dựng Đề án đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết các vụ án dân sự, hành chính. Trong đó, cho phép TAND Tối cao tổ chức thí điểm thành lập Trung tâm hòa giải, đối thoại tại TAND hai cấp của TP Hải Phòng và đã thu được kết quả rất khả quan. Trên cơ sở thành công bước đầu của thí điểm tại Hải Phòng, tiếp tục mở rộng triển khai thí điểm tại một số tỉnh, thành phố bảo đảm tính đại diện vùng miền, nông thôn, đô thị.

Tại Quảng Ninh, sau hơn 5 tháng thực hiện thí điểm, 7 trung tâm hòa giải, đối thoại đã nhận 1.425 đơn khởi kiện. Các trung tâm đã đưa ra hòa giải, đối thoại 1.206 đơn và đã hòa giải, đối thoại thành công 803 đơn, đạt 66,5%.

Nhìn chung, việc thực hiện hiệu quả hoạt động thí điểm đổi mới về hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại các tòa án trên địa bàn tỉnh thời gian qua đã làm giảm đáng kể số vụ việc mà tòa án phải thụ lý, giải quyết. Qua đó, góp phần nâng cao tỷ lệ, chất lượng xét xử giải quyết các loại án, tạo thuận lợi cho công tác thi hành án dân sự; tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của Nhà nước và nhân dân. Đồng thời, tạo sự đồng thuận và xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra.

Cùng với đó, thực hiện thí điểm tại Quảng Ninh cũng như các địa phương khác trong nước có ý nghĩa rất lớn về lý luận và thực tiễn phục vụ cho việc xây dựng dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án, dự kiến trình Quốc hội vào kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2019), dự kiến thảo luận lần 2 và thông qua dự thảo vào tháng 5/2020.

Trong bối cảnh TAND Tối cao đang tích cực triển khai thí điểm công tác hòa giải, thì việc nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực này là rất cần thiết và hữu ích. Với những chia sẻ của chuyên gia Nhật Bản là kinh nghiệm quý giá mà các nhà lập pháp của chúng ta học tập, nghiên cứu. Qua đó, có thể tìm hiểu, vận dụng những vấn đề có thể áp dụng vào thực tiễn của Việt Nam, nhằm từng bước xây dựng, hoàn thiện mô hình hòa giải.

Thanh Hoa

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.