10 năm thành lập Đảng bộ TKV 25-5 (2007-2017)

Khẳng định vai trò hạt nhân lãnh đạo

Thứ Tư, 24/05/2017, 08:22 [GMT+7]
.
.

Đảng bộ Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) là Đảng bộ cấp trên cơ sở, trực thuộc Đảng uỷ Khối doanh nghiệp Trung ương. Khi mới thành lập (25-5-2007), Đảng bộ Tập đoàn có 11 chi, đảng bộ cơ sở trực thuộc; 113 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở và 2.306 đảng viên. Đến nay, Đảng bộ Tập đoàn có 28 chi, đảng bộ trực thuộc; 350 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở, 5.179 đảng viên.

Đào lò đá tại Công ty Than Núi Béo.   Ảnh: Đỗ Phương
Đào lò đá tại Công ty Than Núi Béo. Ảnh: Đỗ Phương

Đảng bộ Tập đoàn luôn quán triệt sâu sắc chủ trương, quan điểm của Đảng; chỉ đạo của Chính phủ, của các bộ, ngành, phát huy tinh thần chủ động, tích cực, sâu sát và sáng tạo, lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, chính sách và nhiệm vụ được giao. Đảng bộ Tập đoàn đã từng bước kiện toàn, sắp xếp lại tổ chức, bộ máy, thu gọn đầu mối, bố trí cán bộ chuyên trách, đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, chất lượng và hiệu quả của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đồng chí Lê Minh Chuẩn, Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn cho biết: 10 năm qua, Đảng bộ luôn giữ vững vai trò lãnh đạo Tập đoàn hoàn thành nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước giao. Đảng bộ thường xuyên đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, tạo sự chuyển biến quan trọng trong công tác chỉ đạo của các cấp uỷ đảng và đề cao vai trò, trách nhiệm của cấp uỷ, người đứng đầu cấp uỷ, chuyên môn và các đoàn thể trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ. Đảng bộ đã có những đóng góp quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của Tập đoàn, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh là trung tâm; công tác xây dựng Đảng nói chung và việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên ở các đơn vị, doanh nghiệp trong Tập đoàn.

Đảng uỷ đã ban hành nhiều nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Tập đoàn, như: Nghị quyết số 231-NQ/ĐU về các dự án đầu tư trọng điểm giai đoạn 2008-2010, tầm nhìn đến 2015; Nghị quyết số 736-NQ/ĐU về chiến lược phát triển bền vững Tập đoàn, các công ty TKV đến năm 2025, tầm nhìn đến 2050; Nghị quyết số 402-NQ/ĐU về tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ 5 năm 2011-2015... Các nghị quyết đã đề ra các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo nhiệm vụ chính trị, trên cơ sở đó Cơ quan quản lý - điều hành Tập đoàn, các cấp uỷ đảng, chuyên môn và các đoàn thể trong hệ thống chính trị trong toàn Tập đoàn, các công ty TKV tổ chức, triển khai thực hiện. Đây là giải pháp quan trọng trong lãnh đạo của Đảng bộ, thể hiện vai trò hạt nhân lãnh đạo.

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng bộ thường xuyên đánh giá sơ, tổng kết các nghị quyết chuyên đề; kịp thời chỉ đạo đề xuất kiến nghị với Đảng, Chính phủ, các bộ, ban, ngành Trung ương, Đảng uỷ Khối doanh nghiệp Trung ương, cấp uỷ và chính quyền các địa phương có liên quan tạo điều kiện ủng hộ và từng bước tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho TKV. Đặc biệt, trong tình hình sản xuất kinh doanh của Tập đoàn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, giá dầu thô, than, khoáng sản giảm thấp; một số loại thuế, phí của Nhà nước ngày càng tăng cao; thủ tục cấp phép thăm dò, khai thác than và công tác quản lý thị trường tiêu thụ than trong nước còn nhiều bất cập; tình hình thời tiết không thuận lợi, mưa lũ lớn bất thường; trong khi điều kiện khai thác mỏ của TKV ngày càng khó khăn hơn do tài nguyên ngày càng xuống sâu, lao động còn đông nhưng cơ cấu chưa hợp lý; giá thành sản xuất còn cao..., đã có tác động đến việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và chiến lược phát triển của Tập đoàn. Xác định rõ nhưng khó khăn, thuận lợi đó, Đảng ủy Tập đoàn đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo với nhiều giải pháp cụ thể để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị với một số kết quả cụ thể. Giai đoạn 2007-2011 mặc dù than tiêu thụ trong nước vào các hộ điện bán dưới giá thành sản xuất nhưng bù lại than xuất khẩu có giá cao lên đã bù đắp cho than trong nước, Tập đoàn đã điều hành tăng sản lượng: Năm 2007, than khai thác đạt 43,1 triệu tấn, than tiêu thụ đạt 41,7 triệu tấn (trong nước 17,5 triệu tấn, xuất khẩu 24,2 triệu tấn); đến 2012 than khai thác đạt 48,28 triệu tấn, tăng 20% so với năm 2007, than tiêu thụ đạt 44,7 triệu tấn, tăng 07% so với năm 2007 (trong nước 27,82 triệu tấn, tăng 59%; than xuất khẩu 16,9 triệu tấn, giảm tương ứng 30%). Giai đoạn 2012-2017 mặc dù nhu cầu than trong nước tăng lên nhưng do các chính sách thuế, phí và công tác quản lý thị trường tiêu thụ than có những bất cập, Tập đoàn đã điều chỉnh sản xuất phù hợp với diễn biến của thị trường: Năm 2016 than khai thác đạt 34,5 triệu tấn, giảm 20% so với năm 2007; than tiêu thụ đạt 35 triệu tấn, giảm 16%. Tổng sản lượng 2007-2016: Khai thác 421,49 triệu tấn, tiêu thụ 392,2 triệu tấn (trong nước 256,7 triệu tấn, xuất khẩu 135,5 triệu tấn). Đồng thời, TKV đã thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ, cung cấp đủ than cho nhu cầu tiêu dùng trong nước tại các hộ đã cam kết, góp phần tích cực đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; chuẩn bị sẵn sàng năng lực sản xuất để tăng sản lượng than cho nhu cầu của nền kinh tế trong các năm tiếp theo. Tập đoàn luôn hoàn thành nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước ở mức cao nhất, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện cán cân thương mại. Nộp ngân sách nhà nước của TKV từ năm 2007 trở lại đây tăng từ 3.209 tỷ đồng năm 2007 lên 13.500 tỷ đồng năm 2016; tổng số nộp ngân sách nhà nước 10 năm ước đạt 124.270 tỷ đồng, bình quân 12.420 tỷ đồng/năm. Tổng lao động bình quân 10 năm của TKV khoảng 130.000 người, Tập đoàn luôn đảm bảo đủ việc làm, tiền lương thu nhập cho người lao động, tiền lương bình quân năm 2016 đạt 8,9 triệu đồng/người/tháng (tiền lương bình quân của thợ lò 13,1 triệu đồng/người/tháng).

10 năm qua Đảng bộ Tập đoàn đã thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ, bám sát thị trường để điều hành linh hoạt hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra chuỗi các giá trị gia tăng; từng bước hoàn thiện các quy chế quản lý điều hành trên các lĩnh vực công tác, đầu tư áp dụng công nghệ hiện đại, năng lực sản xuất được nâng cao, đời sống CBCN-LĐ được cải thiện, khẳng định vị thế Tập đoàn kinh tế mạnh và là một trong những trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Lê Hải

.
.
.
.
.
.
.
.