TKV đẩy mạnh cơ giới hoá trong khai thác than

Thứ Bảy, 25/02/2017, 05:45 [GMT+7]
.
.

Quan điểm về đầu tư cơ giới hoá (CGH) trong khai thác đã được TKV chỉ đạo xuyên suốt trong Chiến lược phát triển bền vững Tập đoàn là “Không ngừng đổi mới và hiện đại hoá công nghệ theo hướng nâng cao trình độ cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá và sản xuất sạch hơn”.

Thực hiện mục tiêu đó, trong những năm qua, TKV đã tập trung chỉ đạo các đơn vị thực hiện ứng dụng KHKT, công nghệ mới vào sản xuất, đẩy mạnh CGH khai thác, đào lò. Theo đó, từ trước năm 2010, TKV đã nghiên cứu và đầu tư áp dụng CGH đào lò và CGH khai thác than tại: Mông Dương, Khe Chàm, Vàng Danh...; đầu tư áp dụng rộng rãi CGH công tác bốc xúc, vận tải... Giai đoạn 2013-2016, Tập đoàn đã thăm dò, đánh giá trữ lượng, điều kiện địa chất để áp dụng CGH khai thác, đào lò. Từ năm 2013 đến nay, TKV đã đưa vào vận hành các lò chợ CGH khai thác than công suất 600.000 tấn/năm tại Hà Lầm, Dương Huy, Khe Chàm và lò chợ CGH khai thác than vỉa mỏng công suất 180.000 tấn/năm tại Quang Hanh. Đồng thời, công tác CGH khai thác than vỉa dốc bằng tổ hợp dàn chống 2ANSH kết hợp máy bào và giàn mềm ZRY tại các Công ty: Mạo Khê, Uông Bí, Hồng Thái... bước đầu đã cải thiện điều kiện làm việc, đạt được năng suất và đảm bảo an toàn lao động.

Lò chợ cơ giới hoá đồng bộ tại Công ty CP Than Hà Lầm.  Ảnh: Văn Việt (CTV)
Lò chợ cơ giới hoá đồng bộ tại Công ty CP Than Hà Lầm. Ảnh: Văn Việt (CTV)

Đặc biệt, năm 2016, công tác CGH đã có nhiều dấu ấn quan trọng. Sản lượng khai thác bằng công nghệ CGH toàn TKV năm 2016 đạt khoảng 1,42 triệu tấn, chiếm 7% sản lượng khai thác hầm lò. Mức sản lượng này hiện chưa đạt mục tiêu của TKV (mục tiêu là đạt 9%) nhưng đã vượt xa các năm trước đây, gần gấp 2 lần mức sản lượng khai thác bằng công nghệ CGH năm 2015 (năm 2015 đạt 720.000). Trong khai thác lộ thiên cơ bản đã cơ giới toàn bộ các khâu sản xuất trên các khai trường mỏ bằng đồng bộ thiết bị tiên tiến: Máy xúc thuỷ lực, máy xúc lật; ô tô có tải trọng đến 100 tấn, ô tô khung mềm... Sản lượng và tỷ lệ than khai thác bằng CGH/tổng sản lượng than khai thác bằng các loại hình công nghệ tăng từ 575.624 tấn (đạt 3,19%) năm 2013 lên 720.568 tấn (đạt 3,95%) năm 2015 và dự kiến đạt 2,197 triệu tấn (đạt 9,4%) vào năm 2016. Điển hình là tại Công ty CP Than Hà Lầm lò chợ CGH 600.000 tấn/năm đã đạt công suất thiết kế, lò chợ CGH công suất 1,2 triệu tấn/năm đi vào hoạt động hiệu quả đã khẳng định sự đúng đắn trong định hướng CGH của Tập đoàn, đồng thời cũng khẳng định thợ lò TKV có đủ trình độ và tay nghề để làm chủ công nghệ. Thành công trên là kết quả phấn đấu bền bỉ của tập thể CBCN toàn TKV trong việc nghiên cứu và triển khai áp dụng CGH.

Bên cạnh tập trung CGH trong khai thác, công tác đào lò cơ bản, sản xuất cũng được đầu tư công nghệ mạnh mẽ. Hầu hết tại các đơn vị hầm lò đều áp dụng chống lò bằng vì neo và áp dụng đa dạng về loại hình công nghệ. Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Lê Minh Chuẩn, Chủ tịch HĐTV TKV, mặc dù công tác CGH khai thác đã đạt được các thành tựu nổi bật, nhưng sản lượng than khai thác bằng CGH hàng năm vẫn không đạt theo kế hoạch đặt ra: Năm 2013 đạt 73,8% kế hoạch; năm 2014 đạt 51,3%; năm 2015 đạt 61,4%. Tổng số có 11 dây chuyền CGH đã được đầu tư áp dụng trong Tập đoàn, tuy nhiên, đến nay chỉ còn 6 dây chuyền hoạt động; kết quả thực hiện chống lò bằng vì neo hàng năm còn ở mức thấp, năm cao nhất (2013) mới đạt 3.015m (tỷ lệ mét lò neo/tổng mét lò đào mới đạt 0,87-2,01%, bình quân 1,08%); năm 2016, khối lượng mét lò chống neo còn thấp (2.389/5.987m, đạt 39,9% kế hoạch năm, 2,01% tổng số mét lò đào).

Theo ông Lê Minh Chuẩn, để phát huy hiệu quả của đầu tư công nghệ, xây dựng ngành Than phát triển bền vững, từ nay đến năm 2020, Tập đoàn đề ra mục tiêu tập trung nghiên cứu, hoàn thiện áp dụng CGH cho các mỏ có trữ lượng công nghiệp lớn, ổn định, điều kiện địa chất phù hợp, sau đó sẽ mở rộng áp dụng trong TKV. Đối với các mỏ xây dựng mới (Núi Béo, Khe Chàm II-IV...) cần xác định theo hướng áp dụng những công nghệ tiên tiến, ưu tiên CGH đồng bộ cho công suất lớn... Tiếp tục áp dụng chống lò bằng vì neo để giảm giá thành, nâng cao năng suất lao động, tốc độ đào lò, đưa công nghệ đào chống lò bằng vì neo thành công nghệ truyền thống tại các mỏ than hầm lò...

Đặng Nhung

.
.
.
.
.
.
.
.