Công ty CP Giống cây trồng Quảng Ninh: Đang thua trên "sân nhà"

Thứ Sáu, 21/04/2017, 12:03 [GMT+7]
.
.

Công ty CP Giống cây trồng Quảng Ninh vốn là đơn vị mạnh trong ngành sản xuất giống cây trồng nông nghiệp. Ưu điểm vượt trội của Công ty là sản xuất được các giống lúa nguyên chủng, siêu nguyên chủng (giống gốc), năng lực sản xuất lớn (hiện đạt 1.200 tấn/năm), chất lượng cao. Tuy nhiên những năm gần đây, vì nhiều lý do, sản lượng cung ứng giống tại Quảng Ninh của Công ty ngày càng giảm. Điều này cho thấy, Công ty có nguy cơ để thủng “sân nhà” nếu như không có sự chuyển đổi hợp lý.

Khu khảo nghiệm sản xuất giống lúa của Công ty CP Giống cây trồng Quảng Ninh.
Khu khảo nghiệm sản xuất giống lúa của Công ty CP Giống cây trồng Quảng Ninh.

Thời điểm trước năm 2010, thực hiện chính sách trợ giá giống lúa, ngô của nhà nước (hỗ trợ 50% giá), Công ty CP Giống cây trồng Quảng Ninh trực tiếp cung ứng giống lúa, ngô cho bà con nông dân vùng miền núi, hải đảo trên địa bàn tỉnh. Sản lượng cung ứng theo chính sách trợ giá thời kỳ đó đạt 600 tấn/năm, nâng tổng sản lượng cung ứng giống của Công ty trên toàn tỉnh đạt gần 1.000 tấn/năm, chiếm hơn 90% tổng công suất sản xuất khi đó của Công ty. Tuy nhiên, từ khi chính sách trợ giá giống được chuyển sang hỗ trợ bằng tiền mặt cho nông dân thay vì hỗ trợ giống như trước kia thì tổng sản lượng cung ứng giống của Công ty trên toàn tỉnh giảm mạnh, chỉ đạt gần 500 tấn mỗi năm, chiếm 40% công suất sản xuất hiện nay của Công ty. Sản lượng cung ứng của Công ty là khá khiêm tốn so với nhu cầu giống mỗi năm trên địa bàn tỉnh, ước tính khoảng 1.000-1.200 tấn cho vụ xuân và 1.500-1.800 tấn cho vụ mùa.

Theo lý giải của Công ty, việc này xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trước tiên do thay đổi về hình thức trợ giá, bên cạnh đó là phong trào trồng giống lúa mới được khuyến khích, diện tích canh tác ngày càng thu hẹp, tình trạng người dân tái sử dụng nhiều lần giống vụ trước... Tuy nhiên có một nguyên nhân khác là sản phẩm giống của Công ty tuy chất lượng cao nhưng chưa đa dạng về chủng loại, đồng thời chính sách thương mại, quảng bá bán hàng chưa được đầu tư, hoạt động kém hiệu quả.

Có thể thấy qua nhiều năm, sản phẩm giống đặc trưng của Công ty vẫn là khang dân, hương thơm số 1, Q5, bao thai. Mặc dù năng suất các sản phẩm trên tương đối ổn định, từ 55-70 tấn/ha, chất lượng gạo ngọt, thơm, giàu chất dinh dưỡng, trong đó đặc biệt hương thơm số 1 nằm trong danh sách gạo chất lượng cao của toàn quốc; gạo bao thai là đặc sản của một số vùng miền, nhưng như thế vẫn là chưa đủ so với thị hiếu của người sản xuất hiện nay là ngày càng hướng tới nhiều giống lúa mới, ngắn ngày, sản lượng cao, cho hiệu quả kinh tế. Điều này cho thấy, Công ty đang chậm chuyển đổi, đa dạng sản phẩm, từ đó khó đáp ứng nhu cầu của thị trường, góp phần đưa người tiêu dùng của chính mình tới những sự lựa chọn khác, đơn vị cung ứng giống khác. Bên cạnh đó, hệ thống bán hàng của Công ty chưa thực sự quy củ, hiện đại. Các sản phẩm giống của Công ty đang có mặt ở tất cả trên 40 điểm bán hàng trong toàn tỉnh, tuy nhiên đây là các điểm bán hàng tổng hợp cho nhiều công ty giống trong toàn quốc, không phải là điểm bán hàng do Công ty lập ra và chuyên phục vụ bán các sản phẩm giống của đơn vị. Cùng với đó, chính sách tiếp thị, quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm của Công ty chưa được quan tâm thật sự, hàng năm doanh nghiệp dành phần kinh phí rất nhỏ cho việc này.

Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, người nông dân ngày càng nhận thức rất rõ yếu tố quyết định hiệu quả sản xuất là giống, từ đó coi trọng khâu này, có sự chọn lọc và đầu tư kỹ càng. Chính bởi vậy, đã đến lúc Công ty cần phải có sự chuyển đổi mang tính đột phá, song song với việc chú trọng chất lượng sản phẩm, chủng loại và chính sách bán hàng hợp lý.

Việt Hoa

.
.
.
.
.
.
.
.