Bệnh dịch gây chết hầu không nằm trong danh mục bệnh phải công bố của Bộ NN&PTNT

Thứ Sáu, 28/04/2017, 11:29 [GMT+7]
.
.

 

Gần đây, tại một số vùng nuôi hầu cửa sông trên địa  bàn xảy ra  tình trạng hầu chết bất thường với tỷ lệ cao. Chúng tôi có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở NN&PTNT về nguyên nhân và các biện pháp khắc phục tình trạng trên.

- Xin ông cho biết về tình hình hầu chết trên toàn tỉnh? 

+ Toàn tỉnh hiện đang có 679 bè nuôi hầu cửa sông theo hình thức giàn dây treo và tập trung ở 5 địa phương: Móng Cái (330 bè), Quảng Yên (133 bè), Vân Đồn (124 bè), Tiên Yên (70 bè), Đầm Hà (6 bè). Hiện chưa có thống kê thiệt hại chính thức nhưng theo báo cáo sơ bộ của phòng chuyên môn thuộc Sở, tính đến hết ngày 27/4, huyện Tiên Yên tỷ lệ hầu chết cao nhất tỉnh, trung bình ở mức 80% với khối lượng chết gần 6.000 tấn, thiệt hại gần 85 tỷ đồng. Còn các địa phương như Móng Cái không có hiện tượng hầu chết bất thường. Các địa phương Quảng Yên, Vân Đồn, Đầm Hà có hiện tượng chết nhưng với tỷ lệ thấp, dưới 30%. Phần lớn số hầu chết đều ở lứa tuổi sinh sản, vào cuối giai đoạn thu hoạch. Mẫu hầu chết có dấu hiệu bệnh lý gầy, mang chuyển sang màu ngà vàng, phần thịt xuất hiện nốt sần cứng, màng áo có hiện tượng khô, sần và xơ cứng. Số hàu còn sống trong dây hàu nuôi tập trung vào vị trí cuối dây hàu.

- Nguyên nhân gây ra hiện tượng hầu chết là gì thưa ông?

+  Theo kết quả phân tích của Cơ quan Thú y vùng II và Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I cho thấy 13 chỉ tiêu cơ bản về môi trường đều nằm trong ngưỡng cho phép; có sự có mặt của 4 loại vi khuẩn V. alginolyticus, V. vulnificus, V. cholerae và Staphilococcus sp, song đây là những vi khuẩn thường thấy ở hàu cửa sông, đồng thời tỷ lệ nhiễm thấp từ 10% - 20%. Trong trường hợp hầu bị nhiễm bệnh vẫn không dẫn tới hiện tượng chết bất thường mà chỉ làm gầy hầu. Đặc biệt toàn bộ mẫu hàu chết được phân tích đều âm tính với ký sinh trùng Perkinsus, vốn là tác nhân gây bệnh nguy hiểm nhất đối với hầu, nằm trong danh mục bệnh phải công bố dịch theo quy định của Bộ NN&PTNT.

Hầu bị chết đều ở độ tuổi trưởng thành, đủ tiêu chuẩn thu hoạch
Hầu bị chết đều ở độ tuổi trưởng thành, đủ tiêu chuẩn thu hoạch

Yếu tố bất thường là độ mặn cao, mật độ thực vật phù du, vốn là thức ăn của hầu lại quá thấp và sự có mặt ký sinh trùng đơn bào (giống với Bonamia spp). Mặc dù mẫu nước để phân tích độ mặn được lấy ngay sau khi có cơn mưa lớn, vốn đã làm ngọt hóa tầng nước mặt thế nhưng kết quả vẫn ở chỉ số quá cao, 29%o, trong khi đó con hầu cửa sông là đối tượng nuôi ở vùng nước lợ, độ mặn phù hợp nhất là trên dưới 10%o. Khi độ mặn cao và kéo dài (do thời gian qua nắng nóng nhiều, ít mưa) nên dẫn đến hiện tượng hàu nuôi khép vỏ, giảm cường độ hoặc không bắt mồi. Đối với mật độ thực vật phù du, kết quả phân tích cho thấy chỉ dao động từ 200 - 340 tế bào/lít, rất nghèo kiệt, trong khi lượng thực vật phù du hàu ăn vào đảm bảo để phát triển cần đạt được 0,3-0,5g/kg trọng lượng/ngày. Đối với ký sinh trùng đơn bào (giống với Bonamia spp), đây cũng là vi khuẩn thường thấy ở hàu cửa sông, trong điều kiện bình thường không dẫn tới hầu chết, tuy nhiên với điều kiện thuận lợi phát triển là nhiệt độ nước ấm (25 độ C), độ mặn cao (30‰) kết hợp với các yếu tố như hàu gầy, yếu, sức đề kháng giảm. . . sẽ gây hàu chết.

Như vậy hầu thời điểm này đang ở giai đoạn sinh sản, cần lượng dinh dưỡng lớn để nuôi cơ thể. Thế nhưng môi trường nuôi có yếu tố bất lợi là độ mặn cao làm hàu giảm cường độ bắt mồi hoặc không bắt mồi; nguồn thức ăn của hầu là thực vật phù du lại có mật độ thấp ở mức nghèo kiệt, không đủ để đáp ứng nhu cầu cơ thể; sự có mặt của ký sinh trùng đơn bào (giống với Bonamia spp). Tất cả 3 yếu tố trên đã gây ra hiện tượng hầu bị chết.

- Vậy Sở Nông nghiệp có khuyến cáo gì đối với người nuôi để bảo vệ hầu?

+ Thời điểm này đã vào cuối vụ thu hoạch, diện tích hầu nuôi còn lại tại các địa phương không nhiều, diện tích hầu thả sớm thấp. Để đảm bảo hầu có đủ thức ăn, việc làm đầu tiên là hạ sâu dây nuôi hầu xuống dưới 2m, san thưa dây nuôi hàu và các bè nuôi để giảm mật độ nuôi, giúp hầu bắt được nhiều thực vật phù du hơn làm thức ăn cũng như ăn được lượng mùn bã hữu cơ phía dưới đáy. Tuy nhiên việc này cần được thao tác nhẹ nhàng để hạn chế tối thiểu gây sốc cho hầu. Bên cạnh đó, người nuôi cần thu gom toàn bộ dây hàu chết và vỏ hàu lên bờ xử lý vôi bột và chôn, tuyệt đối không cắt dây hàu bỏ xuống biển để tránh ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến lượng hầu còn sống; tạm dừng thả giống hàu mới trong 6 tháng để phục hồi môi trường và giảm tác nhân gây bệnh. Không vận chuyển hàu từ vùng nước có hàu chết sang vùng nuôi chưa xuất hiện hàu chết.

Xin cảm ơn ông!

Việt Hoa (thực hiện)

.
.
.
.
.
.
.
.