Từ câu chuyện của Trung Quốc, nhìn lại cách xây dựng đặc khu kinh tế của Việt Nam

Thứ Hai, 25/09/2017, 16:08 [GMT+7]
.
.

Theo ông Bùi Tất Thắng, để xây dựng được đặc khu kinh tế, chúng ta cần tìm ra những điểm “vượt bỏ” hợp lý một số quy định pháp lý trong hệ thống luật pháp hiện hành để có đột phá, có phát triển.

Đặc khu kinh tế hay khu mậu dịch tự do không thành hiện thực

Khác với Vân Đồn (Quảng Ninh) và Phú Quốc (Kiên Giang) có định hướng du lịch, Đặc khu hành chính - kinh tế Vân Phong (Khánh Hòa) có định hướng dài hạn là cảng trung chuyển quốc tế.

Tại "Diễn đàn kinh tế miền Trung" do báo VNEconomy tổ chức, PGS. TS Bùi Tất Thắng, Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã có nhận định, việc quyết định xây dựng 3 đặc khu hành chính - kinh tế vào thời điểm hiện nay về một mặt nào đó có thể không được thuận lợi lắm do “điểm rơi” của chu kỳ tự do hóa kinh tế quốc tế đang gặp cơn “gió chướng” của những dấu hiệu chủ nghĩa bảo hộ sống lại. Nhưng về dài hạn, việc xây dựng mô hình Đặc khu hành chính – kinh tế vẫn sẽ còn được tiếp tục, thậm chí với mức độ tự do cao hơn trước.

Nhìn sang Trung Quốc, ngay từ năm 1979, nước này đã thực hiện chính sách cải cách mở cửa, thành lập các đặc khu kinh tế, trong đó điển hình là Đặc khu Thâm Quyến, sau này nhanh chóng trở thành một mẫu hình đặc biệt thành công. Thế nhưng đến nay, Trung Quốc đã xếp Thâm Quyến vào nhóm thành công trong quá khứ, bởi đặc trưng của Thâm Quyến (và nhóm Đặc khu thế hệ I: Thâm Quyến, Chu Hải, Hạ Môn, Sán Đầu) là mở cửa một chiều và tiếp thu quy tắc quốc tế là chính, mở cánh cửa để học tập kinh nghiệm thế giới về hiện đại hóa.

Bây giờ Trung Quốc đang thực hiện giai đoạn 2 của cải cách mở cửa với đại diện là khu Mậu dịch tự do phố Đông (Thượng Hải) cùng với chiến lược “Vành đai - Con đường”, được đặc trưng bằng mở cửa hai chiều, kết nối quy tắc hai bên (Trung Quốc và bên ngoài), làm nổi bật sức ảnh hưởng và quyền phát ngôn trong quá trình hội nhập. Trung Quốc coi đây là giai đoạn mở cửa đi lên tầm cao mới, xây dựng thể chế mới kinh tế mở kiểu mới, càng mở cửa hơn.

Theo kế hoạch, quá trình này chia thành 3 bước. Tháng 8/2013, thành lập Khu thí nghiệm mậu dịch tự do Thượng Hải. Tháng 12/2014, quyết định thành lập 3 Khu thí nghiệm mậu dịch tự do Thiên Tân, Quảng Đông và Phúc Kiến (4/2015 cắt băng thành lập). Và tháng 8/2016, quyết định thành lập 7 Khu thí nghiệm mậu dịch tự do: Liêu Ninh, Triết Giang, Hà Nam, Hồ Bắc, Trùng Khánh, Tứ Xuyên và Thiểm Tây (đến nay chưa cắt băng thành lập).

Trong khi đó, ở Việt Nam, mặc dù có chủ trương từ năm 1997, Hội nghị TW 4 (khoá VIII) đã nêu: "Nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài đặc khu kinh tế, khu mậu dịch tự do ở những địa bàn ven biển có đủ điều kiện". Thế nhưng, trên thực tế, chỉ trừ khu đầu tiên là Chu Lai được mang tên “khu kinh tế mở” và đến năm 2007 thành lập thêm "Khu thương mại tự do" thuộc "Khu kinh tế mở Chu Lai", còn tất cả các khu ra đời sau đó, chỉ được hình thành dưới hình thức “khu kinh tế”.

Những khía cạnh “đặc khu kinh tế”, hay “khu mậu dịch tự do” đã không trở thành hiện thực. Và về mặt quy phạm pháp luật thì chẳng có điều khoản nào có thể so sánh được với các Đặc khu kinh tế thế hệ I của Trung Quốc.

Như vậy sau 40 năm, nước nào thực hiện thì thu được thành tựu rực rỡ; còn Việt Nam ngay cả khi đã ban hành Nghị quyết Trung ương về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, vẫn chỉ đặt ra vấn đề xây dựng đặc khu ở mấy cuộc hội thảo khoa học về phát triển kinh tế biển.

Cần đột phá trong khuôn khổ pháp lý

Ông Thắng nói, lần này, với việc chỉ đích danh việc xây dựng Luật Hành chính kinh – kinh tế đặc biệt cho 3 khu (Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc) và đang trình Quốc hội, có thể coi như bước tiến thực tế rất xa trong việc thực thi thể chế mang tính đột phá của Nhà nước kiến tạo phát triển trong tình hình mới.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, vấn đề trọng tâm của Luật Đặc khu chính kinh – kinh tế không phải ở chỗ có được thông qua hay không, mà là ở chỗ khi ban hành ra, nó sẽ được hưởng ứng như thế nào và sẽ có tác động ảnh hưởng gì đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước?

Do đó, theo ông Thắng, việc xây dựng Luật Đặc khu hành chính – kinh tế (Vân Phong) phải nhằm vào việc thu hút được những tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu trên thế giới tham gia. Để đạt mục tiêu này, không chỉ đặt nhiệm vụ xây tổ cho phượng hoàng đến ở, mà còn phải (và chỉ nên) là chỉ chỗ cho phượng hoàng đến xây tổ. Cách đặt vấn đề này tự nó đã loại trừ cách thiết kế các điều khoản theo kiểu “nâng cấp” các ưu đãi hiện có của các khu kinh tế lên, mà thay vào đó là thay đổi cách tiếp cận thiết kế các điều khoản của Luật, nhằm đạt tới trình độ chung của thông lệ quốc tế, không phải là ưu đãi hơn trước so với chính ta.

Nên thay đổi tư duy việc lập ra các đặc khu này là để cạnh tranh với các đặc khu trên thế giới (trước hết là ở khu vực châu Á) trong việc thu hút các tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu trên thế giới. Tư duy mới là tham gia vào chuỗi các đặc khu kinh tế của cả châu lục, tạo thành một cộng đồng các đặc khu của cả vùng, giống nhau ở mô hình thể chế thông thoáng, nhưng đa dạng, phong phú trong hoạt động kinh doanh.

Riêng với Đặc khu hành chính – kinh tế Vân Phong, nếu lấy việc xây dựng cảng trung chuyển quốc tế làm hạt nhân, thì ngay từ đầu, đã cần phải định hướng xây dựng mô hình chính quyền cảng và có sự tham gia của các tập đoàn kinh doanh cảng biển lớn trên thế giới và các Hiệp hội vận tải biển quốc tế.

Ông Thắng cũng thừa nhận rằng, đặt vấn đề như trên, đương nhiên sẽ xảy ra những điểm “vượt bỏ” một số quy định pháp lý trong hệ thống luật pháp hiện hành. Nhưng bản chất của đổi mới, hơn nữa là đột phá, chính là tìm ra những điểm “vượt bỏ” hợp lý, chính đáng, để tạo lập khung khổ pháp lý mới, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Không vượt qua được những khung khổ pháp lý bất hợp lý hiện hành, làm gì có đột phá, làm gì có phát triển?

Theo Khổng Chiêm / NDH.vn

.
.
.
.
.
.
.
.