Đảm bảo môi trường trong các khu công nghiệp, khu kinh tế

Thứ Ba, 27/10/2020, 14:16 [GMT+7]
.
.

Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 11 khu công nghiệp (KCN), 6 cụm công nghiệp (CCN). Công tác môi trường tại các KCN, CCN này luôn được chú trọng.

Hệ thống xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Cảng biển Hải Hà. Ảnh: Hữu Việt
Hệ thống xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Cảng biển Hải Hà. Ảnh: Hữu Việt

Trong số 11 KCN được phê duyệt, đến nay đã có 5 khu đi vào hoạt động, gồm: KCN Cái Lân (tổng diện tích là 301,58ha), KCN Việt Hưng (tổng diện tích là 151,89ha), KCN Hải Yên (tổng diện tích là 182,42ha), KCN Đông Mai (tổng diện tích theo quy hoạch là 167,86ha), KCN Texhong Hải Hà thuộc KCN - Cảng biển Hải Hà (tổng diện tích là 660ha). Còn trong 6 CCN được thành lập với tổng diện tích 382,24ha, thì hiện có 4 CCN đã đi vào hoạt động (CCN Hà Khánh, CCN Kim Sen, CCN Nam Sơn, CCN Cẩm Thịnh).

Theo kết quả báo cáo công tác bảo vệ môi trường trong khu kinh tế, khu công nghiệp, hàng năm, khối lượng chất thải rắn công nghiệp thông thường phát sinh là 48.957,06 tấn. Thời gian qua, tỉnh và các địa phương luôn chú trọng việc chỉ đạo, kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ môi trường tại các KCN, CCN; yêu cầu các doanh nghiệp chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật liên quan đến môi trường. Cụ thể, tỉnh đã ban hành Văn bản số 7926/UBND-MT ngày 31/10/2019 về việc tăng cường công tác kiểm soát, bảo vệ môi trường tại các KCN, KKT và cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao trên địa bàn tỉnh… Đồng thời, hoạt động tập huấn, tuyên truyền về bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp trong KCN, KKT cũng được thực hiện thường xuyên.

Công nhân làm việc tại Khu công nghiệp Texhong Hải Hà thuộc Khu Công nghiệp- Cảng biển Hải Hà.
Công nhân làm việc tại Khu công nghiệp Texhong Hải Hà thuộc Khu Công nghiệp- Cảng biển Hải Hà.

Được biết, đến nay, tất cả các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đi vào hoạt động đều đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải với công nghệ hiện đại, thân thiết với môi trường. Công suất của các trạm này từ 300 đến 10.000m3/ngày, đêm. Nhờ đó, việc xử lý nước thải trong các khu công nghiệp đã đảm bảo quy chuẩn đề ra.

Về chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp và chất thải nguy hại, khí thải trong các KCN được thu gom, xử lý cơ bản đúng quy định. Cả 5 KCN đều hoàn thành việc lắp đặt trạm quan trắc tự động nước thải công nghiệp; kết nối, truyền dữ liệu trực tiếp, liên tục về Sở Tài nguyên và Môi trường. Riêng KCN Texhong Hải Hà, KCN Đông Mai đã có hệ thống hồ sinh thái để ứng phó và khắc phục sự cố của hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN.

Về phía 4 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động thì 3 cụm đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung với tổng công suất xử lý là 3.750m3/ngày đêm. Việc quản lý chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại tại các cụm công nghiệp này được thực hiện tương đối tốt.

Cụm công nghiệp Hà Khánh (TP hạ Long). Ảnh: Cao Quỳnh.
Cụm công nghiệp Hà Khánh (TP Hạ Long). Ảnh: Cao Quỳnh.

Qua giám sát thường xuyên của các cơ quan chức năng cho thấy, khối lượng chất thải rắn công nghiệp thông thường phát sinh trong KCN, CCN đều được thu gom; trong đó được tái chế, tái sử dụng hoặc thu hồi năng lượng là 16%; được chôn lấp, xử lý đạt 84%.

Còn các nhà máy xi măng, nhiệt điện trên địa bàn tỉnh cũng đã đầu tư lắp đặt, vận hành 43 trạm quan trắc tự động liên tục khí thải. Trên cơ sở dữ liệu từ các đơn vị truyền về Trung tâm Điều hành các trạm quan trắc tự động, tỉnh đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn kiểm tra làm rõ nguyên nhân có văn bản yêu cầu thực hiện các giải pháp khắc phục, đảm bảo không phát thải có thông số ô nhiễm vượt giới hạn cho phép, kiên quyết xử lý các vi phạm đối với các trường hợp có số liệu quan trắc tự động vượt giới hạn cho phép.

Việc giám sát chặt chẽ vấn đề môi trường tại các KCN, CCN trên địa bàn đã giúp cho các đơn vị, doanh nghiệp kịp thời khắc phục những tồn tại về môi trường tại đơn vị; từ đó bảo vệ tốt hơn môi trường làm việc của người lao động trong đơn vị cũng như bảo vệ môi trường sống xung quanh.

Cầm Khuê

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.