Đảm bảo an toàn hồ đập, đê điều

Thứ Năm, 13/08/2020, 08:50 [GMT+7]
.
.

Toàn tỉnh hiện có 183 hồ chứa nước với tổng dung tích thiết kế 359 triệu m3, năng lực thiết kế tưới 33.102ha, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp 36,3 triệu m3, cấp nước cho nuôi trồng thủy sản khoảng 2.000ha; 394 đập dâng; 366,117km đê các loại. Để đảm bảo an toàn các công trình thủy lợi, đê điều, ứng phó hiệu quả trước diễn biến phức tạp của thời tiết, các đơn vị, địa phương trong tỉnh có nhiều phương án ứng phó.

đ
Đê Hà Nam dài gần 34km có vai trò bảo vệ 8 xã đảo Hà Nam với gần 60.000 người dân sinh sống, hơn 5.000ha đất nông nghiệp.

Hằng năm Sở NN&PTNT chỉ đạo các công ty thủy lợi tiến hành kiểm tra toàn bộ công trình hồ, đập, kênh mương quản lý để phân loại đánh giá xây dựng kế hoạch, triển khai sửa chữa các hạng mục công trình xung yếu; kiểm tra, đánh giá mức độ an toàn các hồ chứa trên địa bàn. Trên cơ sở đó, Sở lập danh mục những hồ chứa hư hỏng, xuống cấp và tham mưu tỉnh có phương án bảo đảm an toàn cho các công trình và người dân… Đến nay, nhiều hồ trên địa bàn tỉnh đã được phê duyệt quy trình vận hành điều tiết và được lập phương án xả lũ vùng hạ du. Riêng tại các hồ Yên Lập, Đầm Hà Động, Tràng Vinh đã được lắp đặt hệ thống quan trắc tự động phục vụ vận hành theo thời gian thực của hồ chứa…

Trên cơ sở kết quả rà soát hiện trạng các công trình thủy lợi, Sở NN&PTNT tiếp tục yêu cầu các đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ triển khai sửa chữa nâng cao an toàn cho các công trình đê điều, thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh trong năm nay, như: Dự án tràn xả lũ dự phòng và hệ thống thoát lũ sau tràn hồ chứa nước Khe Cát, huyện Tiên Yên; nâng cấp vị trí xung yếu đê Đồng Rui, huyện Tiên Yên... đẩy nhanh tiến độ hoàn thành, bàn giao các công trình: Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền tại phường Cẩm Thủy, TP Cẩm Phả; Khu neo đậu trú bão cho tàu cá tại khu vực Vụng Sú Thoi Dây, huyện Đầm Hà; duy trì 10 điểm đo mưa tự động tại vị trí thượng nguồn hồ chứa, các điểm có nguy cơ cao và kết nối với các điểm quan trắc do các công ty TNHH MTV Thủy lợi lắp đặt để thông báo, cảnh báo cho cộng đồng...

Hồ Yên Lập cung cấp nước sản xuất và sinh hoạt các khu vực: Quảng Yên, Uông Bí và Hạ Long. Hồ Yên Lập cung cấp nước sản xuất và sinh hoạt các khu vực: Quảng Yên, Uông Bí và Hạ Long.
Hồ Yên Lập cung cấp nước sản xuất và sinh hoạt các khu vực: Quảng Yên, Uông Bí và Hạ Long.

Các công trình hồ đập trên địa bàn đầu tư bằng vốn vay Ngân hàng Thế giới thuộc nhóm công trình thủy lợi cấp II và cấp III, có dung tích từ 0,5 đến 15 triệu m3, đang được đẩy nhanh hoàn thành, là hồ đập: Đá Trắng, Đồng Đò, Rộc Chày (Đông Triều); Rộc Cùng, Sau Làng (Hạ Long); Khe Táu (Tiên Yên); Quất Đông (Móng Cái); Chúc Bài Sơn (Hải Hà).

Mới đây, Sở NN&PTNT đã phê duyệt phương án vùng trọng điểm phòng chống thiên tai trên địa bàn tỉnh, gồm 5 vùng: Vùng số 1 - đê Hà Nam, TX Quảng Yên; Vùng số 2 - dân cư vùng nguy cơ sạt lở đất và lũ quét; Vùng số 3 - dân cư và tàu thuyền hoạt động trên vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và vùng biển Quảng Ninh; Vùng số 4 - đê tả sông Kinh Thầy, TX Đông Triều; Vùng số 5 - hồ chứa nước Yên Lập. Trên cơ sở này, các địa phương của tỉnh chủ động tổ chức thực hiện phương án đảm bảo an toàn, nhất là trong mùa mưa bão.

d Thi công đập tràn công trình hồ chứa nước Quất Đông (xã Hải Đông, TP Móng Cái). Ảnh: Hữu Việt
Thi công đập tràn công trình hồ chứa nước Quất Đông (xã Hải Đông, TP Móng Cái). Ảnh: Hữu Việt

Theo ông Đoàn Mạnh Phương, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi (Sở NN&PTNT), hiện các hồ chứa nước vừa và lớn trên địa bàn tỉnh cơ bản hoạt động bình thường, đảm bảo an toàn mùa mưa lũ năm nay. Mặc dù các công trình thủy lợi, đê điều được nâng cấp, tu bổ, tuy nhiên tình trạng hư hỏng chủ yếu xảy ra ở các hồ chứa nhỏ, đê điều do địa phương cấp huyện quản lý, tiềm ẩm nguy cơ mất an toàn. Trước diễn biến ngày càng phức tạp và cực đoan của thời tiết, để đảm bảo an toàn các công trình thủy lợi, đê điều, công tác duy tu, sửa chữa cần được triển khai thường xuyên hơn nữa, nhất là việc nâng cấp bảo đảm an toàn các công trình thủy lợi loại vừa và đê điều cấp IV trở lên…

Liên Hương

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.