Hiệu quả lồng ghép nguồn lực từ các chương trình MTQG

Thứ Tư, 22/07/2020, 15:14 [GMT+7]
.
.

Đa dạng hóa nguồn lực, lồng ghép và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và xây dựng NTM là cách thức mà Quảng Ninh đã triển khai trong thời gian qua, nhằm tối ưu hóa sự hỗ trợ cho người dân. Qua đó, từng bước cải thiện đời sống KT-XH của những đối tượng được thụ hưởng, đặc biệt là người dân vùng đồng bào DTTS, miền núi.

Người dân bản Sông Moóc, xã Đồng Văn (huyện Bình Liêu) thêu trang phục truyền thống.
Người dân bản Sông Moóc, xã Đồng Văn (huyện Bình Liêu) thêu trang phục truyền thống.

Để tạo sức bật cho người dân vùng đồng bào DTTS, việc đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất được xem là giải pháp hữu hiệu. Xác định rõ điều này, huyện Bình Liêu đã vận dụng linh hoạt các nguồn lực đầu tư từ chương trình NTM và Chương trình 135 để ưu tiên cải thiện hạ tầng nông thôn, miền núi. Nhiều công trình thiết yếu như đường giao thông, điện, nước sinh hoạt, kênh mương tưới tiêu, nhà văn hóa, trường học, trạm y tế, đã được đưa vào sử dụng, góp phần nâng cao điều kiện sống và thúc đẩy người dân phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững.

Tiêu biểu như: Đập trữ nước Co Nhan (thị trấn Bình Liêu) phục vụ tưới tiêu cho 150ha diện tích canh tác lúa của nhân dân; đập kênh Cáng Bắc (xã Lục Hồn) giúp đảm bảo cung cấp nước phục vụ sản xuất cho hơn 10ha đất nông nghiệp tại 3 bản Cáng Bắc, Phá Lạng, Bản Chuồng; đường cấp B nông thôn vào vùng sản xuất tập trung Ngàn Mèo Trên đấu nối vào đường NTM xã Lục Hồn phục vụ sản xuất và việc đi lại của 24 hộ dân phía trên bản Ngàn Mèo...

Nhà văn hóa thôn Lục Ngù, xã Húc Động (Bình Liêu) mới được đầu tư khang trang từ nguồn vốn xây dựng NTM và các nguồn vốn lồng ghép khác.
Nhà văn hóa thôn Lục Ngù, xã Húc Động (Bình Liêu) mới được đầu tư khang trang từ nguồn vốn xây dựng NTM và các nguồn vốn lồng ghép khác.

Ông Hoàng Ngọc Ngò, Phó Chủ tịch UBND huyện Bình Liêu cho biết: Việc lồng ghép, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn từ chương trình NTM, Chương trình 135, Đề án 196 đã giúp huyện củng cố nguồn lực. Từ đó, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún, thực hiện được nhiều công trình động lực để hỗ trợ người dân phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần.

Tương tự như Bình Liêu, từ nguồn vốn 135, chương trình NTM và các nguồn vốn khác, TP Hạ Long đã tập trung đầu tư nâng cấp nhiều công trình hạ tầng, nhằm tạo sức bật cho các xã khu vực miền núi, vùng ĐBKK, qua đó, tiến dần đến mục tiêu thu hẹp chênh lệch KT-XH ở khu vực này với thành thị. Tiêu biểu như, việc đầu tư 4 công trình nước sinh hoạt tập trung, thủy lợi, tại địa bàn 4 xã Kỳ Thượng, Đồng Lâm, Đồng Sơn, Tân Dân;  xây mới, nâng cấp 12 công trình đập và kênh, nâng tỷ lệ kênh mương được kiên cố hóa tại địa bàn các xã; xây dựng tuyến đường từ xã Kỳ Thượng đi thôn Khe Lương, Khe Phương; xây mới Trạm Y tế xã Tân Dân, sửa chữa Trạm Y tế xã Đồng Sơn, Đồng Lâm và Kỳ Thượng; xây mới, nâng cấp, sửa chữa 6 công trình trường học…

Từ nguồn vốn đầu tư của Chương trình 135, cô và trò điểm trường Mảy Nháu (xã Quảng Sơn, huyện Hải Hà) được học tập trong lớp học khang trang.
Từ nguồn vốn đầu tư của Chương trình 135, cô và trò điểm trường Mảy Nháu (xã Quảng Sơn, huyện Hải Hà) được học tập trong lớp học khang trang.

Trong 5 năm qua, các nguồn lực đầu tư từ Chương trình 135, chương trình xây dựng NTM... đã tạo chuyển biến quan trọng trong kết cấu hạ tầng KT-XH khu vực đồng bào DTTS. Đến nay, 100% xã có đường ô tô cứng hoá đến trung tâm xã; 100% hộ dân ở các xã ĐBKK được sử dụng điện lưới quốc gia, điện năng lượng mặt trời; trên 96,5% hộ DTTS được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh… Tỉnh có đủ cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, THCS, đưa Quảng Ninh đứng đầu 15 tỉnh miền núi phía Bắc về các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục.

Đặc biệt, thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, đời sống của người dân từng bước được cải thiện. Từ nguồn lực này, tỉnh tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp hỗ trợ sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân, như: Cho vay vốn ưu đãi, hướng dẫn tập huấn kỹ thuật, phát triển các mô hình giảm nghèo, xây dựng vùng sản xuất tập trung, phát triển thương hiệu sản phẩm đặc trưng, hỗ trợ kết nối, tiêu thụ sản phẩm cho người dân… Đặc biệt, chương trình OCOP của tỉnh đã có hàng trăm sản phẩm được phát triển quy mô bài bản từ người dân ở vùng đồng bào DTTS, như: Trà hoa vàng, ba kích tím Ba Chẽ; lá tắm người Dao, miến dong Bình Liêu; gà đồi Tiên Yên...

Bác sĩ Trạm Y tế xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ khám bệnh cho người dân.
Bác sĩ Trạm Y tế xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ khám bệnh cho người dân.

Tính đến nay, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo ở các xã, thôn vùng ĐBKK đã giảm từ 61,9% (năm 2015) xuống còn 13,3% (năm 2019). Đây sẽ là tiền đề quan trọng để tỉnh tiến dần đến những mục tiêu quan trọng hơn trong thời gian tới.

Nguyên Ngọc

Tin liên quan

 

.
.
.
.
.
.
.
.