Đông Triều: Tái đàn lợn thận trọng và an toàn

Thứ Năm, 30/07/2020, 14:02 [GMT+7]
.
.

Là địa phương có tổng đàn lợn lớn nhất tỉnh, tuy nhiên quy mô nuôi chủ yếu là nông hộ, điều kiện nuôi chưa thật sự đảm bảo, Đông Triều chịu tác động nặng nề từ “cơn bão” dịch tả lợn châu Phi. Chỉ tính năm 2019, tổng đàn lợn của Đông Triều giảm đến gần 70%, từ gần 80.000 con (thời điểm đầu năm) xuống còn 26.000 con (thời điểm cuối năm).

Hiện Đông Triều đang giữ được khoảng 3.400 nái, đảm bảo cung ứng 3/4 nhu cầu tái đàn hiện nay.
Đông Triều hiện đang giữ được khoảng 3.400 lợn nái, đảm bảo cung ứng 3/4 nhu cầu tái đàn hiện nay.

Trước áp lực thị trường khan hiếm sản phẩm thịt lợn, cộng với tình hình dịch bệnh có dấu hiệu dần lắng xuống, trong khoảng hơn 4 tháng trở lại đây, các hộ nuôi lợn ở Đông Triều bắt đầu tái đàn. Đặc điểm tái đàn của Đông Triều được đánh giá khá thận trọng và an toàn, chủ yếu dựa vào nguồn giống tại chỗ, tuy nhiên nguy cơ bị thiệt hại vẫn rất cao, nhất là trong bối cảnh dịch tả lợn châu Phi đang có dấu hiệu tái phát và quy mô nuôi của Đông Triều vẫn là nuôi nông hộ.

Theo con số khảo sát của thị xã, hiện tổng đàn lợn trên địa bàn đạt 36.000 con, bằng 45% tổng đàn trước dịch (đầu năm 2019), tăng 10.000 con so với thời điểm cuối dịch (cuối năm 2019); số hộ nuôi là trên 1.400 hộ, bằng 50% tổng hộ nuôi trước dịch. Các hộ có điều kiện tái đàn chủ yếu là có chuồng trại khá đảm bảo, quan trọng là còn giữ lại được đàn nái trong dân, bên cạnh đó một số trang trại không bị “dính” dịch tả lợn châu Phi vẫn tiếp tục mở rộng đàn.

Mặc dù bị thiệt hại đến 55-60% so với trước dịch, tuy nhiên hiện toàn thị xã vẫn còn 3.400 con nái và 80 đực giống, đủ cung ứng 3/4 nhu cầu nuôi của các hộ tái đàn lợn hiện nay. Số hộ thiếu lợn giống để tái đàn ước khoảng 25%, đa số đều đặt hàng ở những đơn vị cung ứng giống uy tín trong toàn quốc. Chính bởi vậy, theo nhận định của Phòng Kinh tế thị xã, con giống lợn để tái đàn hiện nay của Đông Triều là khá đảm bảo, ít nguy cơ mang dịch bệnh từ nơi khác về. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến Đông Triều gần đây không xuất hiện trở lại các ổ dịch tả lợn châu Phi như nhiều địa phương lân cận. 

Cũng theo đánh giá của Phòng Kinh tế thị xã, với tình hình tăng đàn như hiện nay, kỳ vọng đến cuối năm 2020, tổng đàn lợn của Đông Triều có thể tăng lên 60.000 con, đạt 75% so với tổng đàn trước dịch. Bên cạnh đó, thị xã cũng đang nhận được những tín hiệu tích cực từ phía các doanh nghiệp lớn đầu tư vào chăn nuôi lợn trên địa bàn. Cụ thể như Gimexco, Dabaco, CP đang thúc đẩy dự án của mình, trong đó Gimexco chỉ chờ những thủ tục giao đất cuối cùng để xây dựng chuồng trại, có thể đưa vào sản xuất từ quý IV/2020 với quy mô tổng đàn lợn giai đoạn I bằng với tổng đàn của toàn thị xã hiện nay là trên 36.000 con, quy mô cả dự án bằng tổng đàn lợn của Đông Triều ở thời điểm trước dịch với 80.000 con.

Tốc độ tái đàn lợn của Đông Triều đang vượt 10%. ảnh Hải Hà
Tốc độ tái đàn lợn của Đông Triều đang vượt 10%. Ảnh: Hải Hà

Mặc dù đã đạt được những kết quả khá khả quan, tuy nhiên việc tái đàn lợn của Đông Triều vẫn cần thận trọng hơn và xử lý một số nút thắt quan trọng. Có thể thấy tốc độ tái đàn của Đông Triều hiện đang khá cao, vượt 10% tổng đàn thời điểm trước dịch như theo khuyến cáo của tỉnh. Trong khi đó lợn giống vẫn trong tình trạng khan hiếm, nguy hiểm hơn là dịch tả lợn châu Phi vẫn có dấu hiệu tái phát. Hiện đã xuất hiện những ổ dịch đơn lẻ tại một số địa phương trong tỉnh và cả nước.

Bên cạnh đó, 2 cơ sở lưu giữ giống gốc lợn Móng Cái trên địa bàn đều đã bị thiệt hại bởi dịch tả lợn châu Phi, hiện mới đang ở giai đoạn phục hồi và lựa chọn nái bố mẹ để sinh sản. Do đó, trước mắt chưa có khả năng cung cấp lợn giống thương phẩm cho người dân, trong khi con giống này được đánh giá sức đề kháng tốt, khả năng chống lại bệnh dịch cao. Bên cạnh đó, 80% tổng số hộ nuôi lợn hiện nay của Đông Triều nằm trong khu dân cư, theo quy định buộc phải di chuyển đến vị trí chăn nuôi phù hợp, hoặc chấm dứt chăn nuôi. Đây là những bài toán khó mà Đông Triều phải giải để có thể phát triển đàn lợn một cách an toàn và bền vững.

Việt Hoa 

.
.
.
.
.
.
.
.