Ứng dụng công nghệ vi sinh trong trồng trọt, chăn nuôi

Thứ Bảy, 27/06/2020, 14:30 [GMT+7]
.
.

Ứng dụng KH&CN nói chung và công nghệ vi sinh nói riêng vào sản xuất nông nghiệp đã giúp nông dân trong tỉnh sản xuất ra sản phẩm nông sản an toàn, có sức cạnh tranh cao trên thị trường; phát triển nền nông nghiệp bền vững và đảm bảo môi trường, góp phần xây dựng nông thôn mới.

 Vệ sinh ao nuôi tại mô hình nuôi tôm 2 giai đoạn theo công nghệ Biofloc của hộ anh Phùng Quang Lộc (xã Hải Lạng, huyện Tiên Yên).
Vệ sinh ao nuôi tại mô hình nuôi tôm 2 giai đoạn theo công nghệ Biofloc của hộ anh Phùng Quang Lộc (xã Hải Lạng, huyện Tiên Yên).

Những năm qua, ngành Nông nghiệp, KH&CN, Hội Nông dân tỉnh đã xây dựng nhiều mô hình chuyển giao, ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế phát triển bền vững.

Trong đó, nhiều mô hình trồng trọt, chăn nuôi đã ứng dụng một số chế phẩm sinh học vào sản xuất. Điển hình là mô hình nuôi tôm 2 giai đoạn theo công nghệ Biofloc của hộ anh Phùng Quang Lộc (xã Hải Lạng, huyện Tiên Yên) cho thu nhập 20 tỷ đồng/vụ/20 ha.

Từ năm 2018, anh Lộc bắt đầu áp dụng thử nghiệm nuôi tôm siêu thâm canh 2 giai đoạn công nghệ Bioflo và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Anh Lộc cho biết: Tuy nuôi theo công nghệ này nguồn vốn đầu tư ban đầu lớn, song thời gian nuôi ngắn, năng suất, sản lượng tăng, hiệu quả kinh tế cao gấp 2-3 lần so với phương pháp nuôi tôm truyền thống trước đó. Nhất là việc ứng dụng chế phẩm sinh học Biofloc, một loại hạt phức hợp đa dạng của vi khuẩn, tảo, mùn xác hữu cơ, động vật phù du, giun nhỏ... có giá trị dinh dưỡng cao làm thức ăn cho tôm đã giúp giảm tới 30% lượng thức ăn trong ao nuôi. Tôm nuôi không sử dụng kháng sinh, hóa chất, chỉ sử dụng chế phẩm sinh học nên đảm bảo về chất lượng đầu ra. Đồng thời, duy trì chất lượng môi trường nước tốt, đảm bảo cho tôm sinh sống, hạn chế dịch bệnh, đặc biệt là không gây ô nhiễm môi trường.

Quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh 2 giai đoạn công nghệ Biofloc đã giải quyết được những khó khăn, tồn tại của nghề nuôi tôm hiện nay. Nhận thấy rõ hiệu quả kinh tế của mô hình này, nhiều hộ nuôi tôm ở Tiên Yên, Móng Cái, Quảng Yên... đã mạnh dạn áp dụng, cho năng suất, chất lượng cao.

 Nhiều hộ nuôi tôm mạnh dạn ứng dụng công nghệ vi sinh trong nuôi trồng cho năng suất, chất lượng cao.
Nhiều hộ nuôi tôm mạnh dạn ứng dụng công nghệ vi sinh trong nuôi trồng cho năng suất, chất lượng cao.

Hơn 800 hộ dân ở Đông Triều và Quảng Yên đã ứng dụng chế phẩm AT-YTB xử lý rơm rạ sau thu hoạch với quy mô 70ha. Chế phẩm sau xử lý 7 - 10 ngày cho thấy, rơm rạ được phân hủy trên 90%, bùn ruộng mát, mềm hơn so với ruộng không được xử lý. Đồng ruộng giảm mùi tanh hôi do các khí phân hủy rơm rạ gây ra nên giảm ốc bươu vàng gây hại. Nhờ đó, năng suất lúa tăng khoảng 5 - 10%, sử dụng liên tục nhiều vụ sẽ giảm lượng phân bón từ 15 - 30%.

Hay nông dân tại Quảng Yên đã ứng dụng mô hình đệm lót sinh học với chế phẩm Balasa N01 vào chăn nuôi lợn sinh sản, giúp giữ ấm cho đàn lợn con về mùa đông. Đồng thời, giảm mùi hôi thối do chất thải trong chăn nuôi gây ra, đảm bảo vệ sinh môi trường.

 Chăm sóc rau trồng theo phương pháp thủy canh tại Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại 188 (phường Mạo Khê, TX Đông Triều).
Chăm sóc rau trồng theo phương pháp thủy canh tại Công ty CP Đầu tư xây dựng và thương mại 188 (phường Mạo Khê, TX Đông Triều).

Kết quả từ các mô hình cho thấy việc ứng dụng những chế phẩm sinh học trong trồng trọt, chăn nuôi có tác dụng tăng khả năng hấp thụ, phát triển, chống dịch bệnh, tăng tỷ lệ sống... góp phần giảm chi phí đầu vào, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, tiết kiệm chi phí cho người nông dân.

Bởi vậy, bên cạnh việc xây dựng mô hình, các sở, ngành, địa phương của tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức cho người dân, hướng tới một nền nông nghiệp xanh, sạch và đảm bảo môi trường.

Việc ứng dụng công nghệ vi sinh trong sản xuất nông nghiệp đã góp phần thay đổi tập quán canh tác của nông dân từ lạc hậu, thủ công bằng tập quán hiện đại, áp dụng KH&CN vào sản xuất. Trong đó, sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, nguồn gốc sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.

Chế phẩm sinh học hiện đang được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là ngành nông nghiệp vì những lợi ích to lớn mà nó mang lại.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, chế phẩm sinh học giúp tăng sức đề kháng, giảm 1/3 khẩu phần thức ăn, giảm dùng thuốc kháng sinh và còn có thể giảm 70-80% mùi hôi, nâng cao sản lượng, chất lượng thịt - trứng - sữa…

Hay trong trồng trọt, chế phẩm sinh học giúp cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, nâng cao sức chống chịu (rét, hạn, úng, sâu bệnh hại…), giảm bệnh tật.

Trong nuôi trồng thủy sản, chế phẩm sinh học giúp bổ sung những vi khuẩn có lợi giúp cân bằng tiêu hóa, xử lý ô nhiễm, xử lý khí độc trong ao tôm, xử lý bùn đáy, xử lý nước ao nuôi, tăng cường miễn dịch và sức đề kháng cho tôm, cá...

Ngoài ra, chế phẩm sinh học còn giúp cải tạo xử lý đất, giúp đất tơi xốp, thoáng khí, hạn chế các tác nhân gây bệnh tồn tại trong đất.


Nguyễn Hoa

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.