Siết chặt quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Cần những giải pháp đồng bộ, hiệu quả

Thứ Sáu, 22/05/2020, 11:19 [GMT+7]
.
.

Các loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có tác dụng bảo vệ cây trồng chống lại những tác hại của các loại sâu bệnh. Do đó, việc sử dụng các loại thuốc BVTV để diệt các loại sâu, bệnh gây hại, bảo đảm năng suất, hiệu quả kinh tế cho cây trồng là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, việc sử dụng các loại thuốc BVTV được xem như “con dao hai lưỡi”. Nếu sử dụng bảo đảm theo nguyên tắc “4 đúng” thì thuốc BVTV sẽ phát huy hiệu quả thiết thực. Ngược lại, nếu sử dụng không đúng thì sẽ gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe con người, đến cây trồng, ảnh hưởng tới môi trường, làm mất dần sự cân bằng sinh thái.

Thuốc BVTV cần thiết để bảo vệ sự phát triển của cây trồng.
Đối với cây cam Vạn Yên cũng như các loại cây trồng khác, thuốc BVTV cần thiết để bảo vệ sự phát triển.

Chưa thực hiện tốt “4 đúng”

Đông Triều, Quảng Yên là 2 vựa lúa, rau, màu của tỉnh. Nông dân của 2 địa phương này cũng được đánh giá có kỹ năng và ý thức trong sử dụng thuốc BVTV. Thế nhưng, nếu mục sở thị trên những cánh đồng Quảng Yên, Đông Triều, người trong nghề vẫn có thể dễ dàng nhận ra những nguy cơ từ thuốc BVTV ở đây. Đó là việc đa số nông dân đều không có sổ sách ghi chép, theo dõi lịch trình sử dụng thuốc BVTV; các bể chứa vỏ bao bì thuốc BVTV đặt không đúng vị trí quy định, không đảm bảo về mật độ, quy cách, không có biển cảnh báo... một số nơi người dân xử lý vỏ bao bì thuốc BVTV theo cách đốt ngay tại bể, chôn lấp hoặc xử lý chung với rác thải sinh hoạt.

Đối với những địa phương còn lại của tỉnh, nhất là các vùng nông nghiệp sâu, xa không thuận tiện về giao thông nội đồng thì những tồn tại tương tự như ở Đông Triều, Quảng Yên còn ở mức độ cao hơn. Theo báo cáo của Chi cục Trồng trọt và BVTV, tại nhiều cánh đồng của Hoành Bồ (TP Hạ Long) và các huyện, thành phố khu vực miền Đông của tỉnh còn tình trạng người dân sử dụng thuốc BVTV không đủ “4 đúng”, bao gồm đúng về chủng loại thuốc, liều lượng, thời gian và phương pháp pha chế thuốc. Các vỏ, bao gói thuốc BVTV sau sử dụng bị bỏ lại vương vãi khắp nơi trên đồng ruộng, nguồn nước. Có địa phương vẫn trưng dụng các cống bi làm bể thu gom vỏ, bao gói thuốc BVTV, dẫn đến bể không đáy, không nắp, không biển báo, biểu tượng cảnh báo nguy hiểm. Việc xử lý vỏ, bao gói thuốc BVTV cũng còn khá tùy tiện...

Cán bộ Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh hướng dẫn nông dân Hạ Long sử dụng thuốc theo
Cán bộ Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh hướng dẫn nông dân Hạ Long sử dụng thuốc theo "4 đúng".

Với thực trạng như trên không ai dám chắc trong những nông sản sản xuất trên địa bàn là không có sản phẩm dư lượng thuốc BVTV. Thực tế kết quả mẫu rau, màu của tỉnh được phân tích ngẫu nhiên từ năm 2019 đến nay cho thấy vẫn còn một số có hàm lượng đạm (nitrat) cao hơn ngưỡng cho phép, trong khi đó đây vốn là một trong những tác nhân quan trọng gây nên bệnh ung thư ở người. Bên cạnh đó vỏ bao gói thuốc BVTV thuộc loại rác thải nguy hại, khi không được thu gom, xử lý theo quy định chắc chắn khiến môi trường đất, nước, không khí ít nhiều bị ô nhiễm, gây ra tác hại lâu dài.

Cần siết chặt quản lý

Theo ông Đặng Đình Thắng, Trưởng Phòng Kinh tế TX Đông Triều, nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong việc quản lý, sử dụng thuốc BVTV hiện nay. Trong đó đối với người dân thì việc chưa quen, chưa nêu cao ý thức ký cam kết, thực hiện theo cam kết về sử dụng thuốc BVTV, đặc biệt chưa tuân thủ yêu cầu ghi chép lịch trình sử dụng thuốc BVTV. Cái khó ở việc này là chính quyền và đơn vị chuyên môn chỉ có thể định hướng, giám sát, khuyến khích người dân thực hiện nội dung này chứ chưa có chế tài xử phạt cụ thể khi xảy ra sai phạm.

Việc xử lý vỏ bao gói thuốc BVTV bằng phương pháp đốt ngay tại bể như ở xã Bình Khê, TX Đông Triều gây ảnh hưởng lớn đến môi trường.
Thực tế việc xử lý vỏ bao gói thuốc BVTV bằng phương pháp đốt ngay tại bể như ở xã Bình Khê, TX Đông Triều gây ảnh hưởng lớn đến môi trường.

Cùng với đó hệ thống hạ tầng giao thông nội đồng kết nối trong vùng canh tác của một số địa phương chưa được đầu tư hoàn thiện, khiến cho việc bố trí vị trí đặt các bể chứa vỏ bao gói thuốc BVTV sau sử dụng cũng như khuyến khích bà con tự giác bỏ vỏ bao gói đúng quy định chưa cao.

Riêng đối với các đơn vị chuyên môn cấp tỉnh, trong khoảng hơn 1 năm qua chưa triển khai việc thu gom và xử lý các vỏ bao gói thuốc BVTV từ các bể chứa trên đồng ruộng của các địa phương, dẫn đến tồn đọng, ảnh hưởng xấu đến môi trường. Thống kê của Chi cục Trồng trọt và BVTV gần đây cho thấy, con số vỏ bao gói thuốc BVTV đang tồn đọng, cần được bốc xúc, xử lý là trên 8 tấn, đấy là còn chưa kể năm 2020 này số lượng vỏ bao bì thuốc BVTV có thể lên tới 16-18 tấn.

Từ bất cập trên cho thấy, tỉnh, các ngành chức năng và các địa phương cần tăng cường các giải pháp quản lý, sử dụng thuốc BVTV đúng cách. Đáng mừng là gần đây nhất, UBND tỉnh đã ra Chỉ thị số 06/CT-UBND về tăng cường quản lý, sử dụng hợp lý thuốc BVTV, đồng thời phát triển, sử dụng phân hữu cơ trên các vùng canh tác nông nghiệp. Theo đó các đơn vị chức năng, các địa phương tập trung công tác kiểm tra thực tế, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm liên quan hoạt động quản lý, sử dụng thuốc BVTV; tiếp tục triển khai có hiệu quả ứng dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây trồng. Các đơn vị quản lý hiệu quả các hoạt động sản xuất, khảo nghiệm, quảng cáo, hội thảo về thuốc BVTV.

Đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh phát hiện một cơ sở tại TX Đông Triều bán thuốc BVTV không rõ nguồn gốc năm 2018.
Đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh phát hiện một cơ sở tại TX Đông Triều bán thuốc BVTV không rõ nguồn gốc năm 2018.

Sở NN&PTNT tham mưu UBND tỉnh lựa chọn và ban hành danh mục thuốc BVTV chất lượng, từ đó khuyến cáo bà con nông dân sử dụng. Cùng với đó các địa phương, doanh nghiệp trọng điểm về sản xuất nông nghiệp đẩy mạnh phát triển và sử dụng thuốc BVTV gốc sinh học, thảo mộc và đồng thời xây dựng mô hình điểm để khuyến khích nông dân nhân rộng...

Ông Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở NN&PTNT nhận định: Từ những giải pháp trên, kỳ vọng trong thời gian tới việc quản lý, sử dụng thuốc BVTV toàn tỉnh sẽ được thắt chặt hơn, nâng cao hiệu quả hơn một bước. Đây là điều kiện tiên quyết để Quảng Ninh phát triển nông nghiệp bền vững, có được những nông sản sạch, an toàn và đưa nông sản sạch đến bếp ăn của mỗi gia đình, như mục tiêu đề ra.

Việt Hoa

Ông Nguyễn Văn Công

Ông Nguyễn Văn Công, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT: "Nông nghiệp hữu cơ là một hướng mở để hạn chế, tiến tới không sử dụng thuốc BVTV gốc hóa học"

Nông nghiệp hữu cơ có nhiều ưu điểm, trong đó rõ nét nhất là bảo vệ môi trường để phát triển lâu dài và nâng cao chất lượng nông sản, an toàn đối với sức khỏe con người. Quảng Ninh cũng đã có những chính sách quan trọng để phát triển, nhân rộng các mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuy nhiên hiện do thị hiếu tiêu dùng của người dân chưa thực sự coi trọng, đánh giá cao sản phẩm hữu cơ nên giá cả và thị trường tiêu thụ của chúng chưa tốt. Điều đó khiến cho các mô hình này khó cạnh tranh và phát triển được so với nông nghiệp thông thường, đồng thời cho thấy nông nghiệp hữu cơ thực sự rất cần thiết phải đẩy mạnh và phát triển song lại đang phải chịu khó khăn. Thực trạng này đề ra cho cơ quan quản lý chuyên môn chúng tôi bài toán cần phải có sự tác động, hỗ trợ thiết thực hiệu quả hơn nữa. Hiện nay chúng tôi đã tham mưu tỉnh ra chỉ thị về việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên toàn tỉnh. Đây sẽ là một thuận lợi trong việc hiện thực hóa mục tiêu này.

 

Ông Trần Văn Huấn

Ông Trần Văn Huấn, Phó Phòng NN&PTNT huyện Đầm Hà: "Buộc người nông dân ghi chép sổ sách về lịch trình sử dụng thuốc BVTV là một khó khăn"

Từ rất nhiều nỗ lực, trong những năm qua người nông dân Đầm Hà đã nêu cao ý thức trong việc sử dụng thuốc BVTV để phun trừ sâu bệnh, hỗ trợ sự phát triển của cây trồng. Thực tế đa số nông dân trên địa bàn được kiểm tra đều tuân thủ quy trình "4 đúng", nhất là đối với các trang, gia trại có quy mô sản xuất lớn. Tuy nhiên riêng trong việc người sản xuất trực tiếp phải ghi chép lịch trình sử dụng thuốc BVTV thì Đầm Hà gần như chưa làm được. Hiện nay việc này mới được một vài cơ sở sản xuất nông nghiệp quy mô lớn chú trọng, còn bà con nông dân cứ phun xong thuốc là thôi. Điều này một phần xuất phát từ thói quen canh tác của bà con, phần khác do thời vụ cây trồng tương đối ngắn, chưa kịp ghi chép theo khung thì đã được thu hoạch, quan trọng hơn là khách hàng, thị trường tiêu dùng sản phẩm của bà con không yêu cầu, chính bởi vậy mà bà con không thực hiện. Trong khi đó thì lực lượng quản lý chuyên môn nông nghiệp từ cấp huyện cho đến xã thôn thiếu và yếu, chỉ có thể định hướng, giám sát, nhắc nhở phần nào, chứ không thể quá sâu sát được. Đây chính là cái khó của Đầm Hà.

THANH HAI 2873.MXF_snapshot_00.jpg

Bà Nguyễn Thị Lý, khu Yên Lãng 2, phường Yên Thọ, TX Đông Triều: “Cần có nhiều giải pháp thu gom bao bì thuốc BVTV”

Trong việc sử dụng thuốc BVTV, hiện nay, rất nhiều người dân còn thiếu ý thức nên thường vứt vỏ bao bì thuốc BVTV ngay tại đồng ruộng, mương nước, ao hồ... Điều này không chỉ ảnh hưởng tới đồng ruộng, ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn, mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân. Theo tôi, thời gian tới, các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức để người dân thay đổi hành vi. Đồng thời, có hình thức xử phạt đủ sức răn đe đối với hành vi vứt vỏ bao bì thuốc BVTV không đúng quy định. Bên cạnh đó, địa phương cần chú trọng đầu tư các bể chứa bao gói thuốc BVTV để thu gom, xử lý theo đúng quy trình, hạn chế ô nhiễm, giữ gìn vệ sinh môi trường sống của chính mình.

 

Bà Hoàng Thị Hương Nhài, Quản lý Công ty CP Đầu tư Song Hành, TX Quảng Yên: “Tiếp tục có cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu”

Bên cạnh tuân thủ nghiêm ngặt các quy định trong việc sử dụng thuốc BVTV, Công ty đã sớm sử dụng thuốc BVTV sinh học để chăm sóc cây trồng, trong đó 100% diện tích rau thủy canh sử dụng hoàn toàn thuốc BVTV sinh học. Hiện nay, các sản phẩm rau của đơn vị đang được tiêu thụ tại các cửa hàng, trường học, bếp ăn tập thể... Tuy nhiên, việc sản xuất còn mang tính mùa vụ, chưa có nhiều cây giá trị cao, tiêu thụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Do đó, chúng tôi rất mong tỉnh tiếp tục có cơ chế, chính sách tạo điều kiện thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu đối với sản phẩm an toàn để gia tăng giá trị, đa dạng hóa sản phẩm, từng bước hướng tới xuất khẩu.

Thanh Bình - Hạ An

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.