Bình Liêu khởi sắc từ xây dựng nông thôn mới

Thứ Ba, 28/04/2020, 13:13 [GMT+7]
.
.

Là địa phương có xuất phát điểm thấp, trước đây, Bình Liêu gặp không ít khó khăn trong việc xây dựng nông thôn mới (NTM) trên địa bàn. Tuy nhiên, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực của cộng đồng dân cư, chương trình xây dựng NTM nơi đây đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ.

Mô hình trồng cam trên đất đồi của hộ ông Hà Niệp Dường, thôn Nà Sa, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. Ảnh: Minh Hà
Mô hình trồng cam trên đất đồi của hộ ông Hà Niệp Dường, thôn Nà Sa, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. Ảnh: Minh Hà

Bình Liêu là huyện miền núi, biên giới với trên 96% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Bước vào xây dựng NTM, trung bình toàn huyện chỉ đạt 3,7 tiêu chí; 100% các xã thuộc khu vực II, III; là huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh (trên 60% dân số là hộ nghèo, cận nghèo), những tiêu chí thiết yếu nhất như hạ tầng cơ sở, công trình thủy lợi, nước sạch... đều yếu và thiếu.

Bắt tay thực hiện chương trình NTM trên địa bàn, Bình Liêu đã xây dựng và thực hiện nhiều giải pháp cụ thể, chi tiết, bám sát vào điều kiện thực tế để đặt ra cách làm riêng nhưng hiệu quả, qua đó đẩy mạnh sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự hưởng ứng của người dân. Bà Lê Thị Thu Hương, Phó trưởng Phòng Nông nghiệp huyện Bình Liêu, cho biết: "Xác định phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập người dân trên địa bàn là một nhiệm vụ trọng tâm, nhiều năm qua, huyện đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát triển; hỗ trợ các dự án phát triển sản xuất để tăng giá trị, tăng thu nhập cho nhân dân".

Chỉ tính năm 2019, triển khai Đề án hỗ trợ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn, từ nguồn vốn phát triển sản xuất chương trình 135, huyện đã thực hiện 35 lượt dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cho 997 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo thụ hưởng. Từ nguồn vốn chương trình xây dựng NTM đã phê duyệt hỗ trợ sau đầu tư 18 lượt dự án cho 18 hộ gia đình, HTX trên địa bàn. Địa phương cũng xây dựng 2 mô hình trình diễn, trong đó mô hình trồng thử nghiệm hoa lan tại Sú Cáu, xã Húc Động cho thấy hiệu quả tốt và một số dự án trọng tâm như: Dự án bảo tồn và phát triển giống gà Cao Sơn; dự án ứng dụng một số giải pháp KHCN để cải tạo và phát triển đàn bò thịt; dự án ứng dụng một số giải pháp kỹ thuật để khôi phục và phát triển cây hồi...

Người dân thôn Pặc Pùng, xã Vô Ngại góp ngày công làm đường liên thôn trên địa bàn.
Người dân thôn Pặc Pùng, xã Vô Ngại, góp ngày công làm đường liên thôn trên địa bàn.

Để phát triển sản xuất gắn tới tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân, Bình Liêu đã chỉ đạo xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, đề án và ban hành, thực hiện cơ chế, chính sách định hướng cho phát triển nông, lâm, ngư nghiệp trên địa bàn. Sản xuất lâm nghiệp vẫn được xác định là ngành mũi nhọn, đã và đang phát huy có hiệu quả mang lại thu nhập chủ yếu cho người dân và doanh nghiệp nơi đây. Bình quân mỗi năm toàn huyện trồng được khoảng 450 ha rừng; đồng thời  từng bước hình thành vùng nguyên liệu dược liệu cung cấp cho cơ sở chế biến trong và ngoài tỉnh. Bước đầu, trên địa bàn đã hình thành được vùng sản xuất tập trung một số cây chủ lực của địa phương với trên 345ha cây dong riềng, trên 7.000ha cây hồi, trên 400ha cây sở, trên 12.000ha cây thông…

Trong chăn nuôi, người dân đã có chuyển biến về nhận thức theo hướng sản xuất tập trung, kinh tế trang trại, gia trại. Đến nay trên địa bàn huyện có trên 30 hộ thực hiện dự án chăn nuôi tập trung quy mô lớn theo hình thức gia trại chăn nuôi. Còn chương trình OCOP được coi là chương trình trọng tâm trong phát triển kinh tế của địa phương. Trên cơ sở đánh giá, xác định các sản phẩm chủ lực thế mạnh, đặc thù của địa phương nhất là các sản phẩm nông nghiệp, huyện đã tổ chức tập huấn, thông tin tuyên truyền, hỗ trợ thành lập và phát triển tổ chức kinh tế gắn với phát triển sản phẩm OCOP. Địa phương cũng tích cực quảng bá, giới thiệu sản phẩm, tham gia các hội chợ, sự kiện nhất là hội chợ OCOP của tỉnh hàng năm. Đến nay, toàn huyện có 27 sản phẩm tham gia chương trình OCOP, trong đó có 2 sản phẩm hạng 4 sao và 10 sản phẩm đạt 3 sao.

Tổ công tác của huyện Bình Liêu giúp đỡ người dân xã Đồng Văn xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh.
Tổ công tác của huyện Bình Liêu giúp đỡ người dân xã Đồng Văn xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh.

Đồng thời, xác định phát triển cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương, huyện tập trung nguồn lực để từng bước hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng. Hệ thống giao thông nông thôn được quan tâm đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế, thuận lợi đi lại cho người dân. Các công trình thủy lợi được đầu tư xây dựng, đáp ứng được yêu cầu cơ bản sản xuất và dân sinh, nâng tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp các vụ trong năm được tưới và tiêu nước chủ động đạt trên 80%. Riêng trong năm 2019, huyện tập trung thực hiện 136 công trình hạ tầng, như: Đường giao thông nông thôn, nhà văn hóa, công trình thủy lợi... Đến nay, các chỉ tiêu, tiêu chí về hạ tầng trên địa bàn các xã đã cơ bản hoàn thành.

Vốn là địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nếp nghĩ, ăn ở còn nhiều lạc hậu, đặc biệt trong công tác vệ sinh môi trường; do vậy, để nâng cao nhận thức của người dân, bên cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, Bình Liêu đã xây dựng các đề án và huy động nguồn lực xã hội hóa xây dựng các công trình vệ sinh, di chuyển chuồng trại chăn nuôi, cải thiện môi trường dân cư. Đến nay, đã có hàng nghìn hộ dân được hỗ trợ xây dựng nhà tiêu, chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh. Toàn huyện có 98,88% hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh.

Ngoài ra, các công tác phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa, phát triển giáo dục... được quan tâm, đạt nhiều kết quả. Đến nay, huyện có 3 xã đạt chuẩn NTM. Hết quý I/2020, trung bình các xã trên địa bàn huyện Bình Liêu đạt 16,67/20 tiêu chí và 45,5/53 chỉ tiêu. Thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn các xã đạt gần 32 triệu đồng/người/năm, toàn huyện còn 388/7.471 hộ nghèo (đạt 5,19%).

Trần Thanh

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.