Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với bảo vệ môi trường

Thứ Sáu, 06/12/2019, 11:55 [GMT+7]
.
.

Từ một địa phương có nguồn thu ngân sách nhà nước chủ yếu từ ngành công nghiệp khai khoáng và tài nguyên đất, đến nay Quảng Ninh đã phát triển một cách bền vững, đảm bảo sự hài hòa giữa các thành phần kinh tế. Trong đó, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng và được gắn chặt với công tác bảo vệ bền vững môi trường tự nhiên.

Hệ thống băng tải bao che kín tại Trung tâm Chế biến và kho than tập trung vùng Hòn Gai
Hệ thống băng tải bao che kín tại Trung tâm Chế biến và kho than tập trung vùng Hòn Gai (giai đoạn 1) góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường. (Ảnh chụp tháng 5/2019)

Nghị quyết 150/NQ-HĐND ngày 7/12/2018 của HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 đã đề ra một số mục tiêu tổng quát. Trong đó, chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển dịch theo hướng tăng cao tỷ trọng, chất lượng và hiệu quả hoạt động dịch vụ gắn với việc tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường tự nhiên... 

Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, các cấp ủy, chính quyền cũng chú trọng huy động mọi nguồn lực để đầu tư phát triển kinh tế theo nguyên tắc có trọng tâm, trọng điểm, phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương. Cụ thể hóa chủ đề công tác năm 2019 của tỉnh “Nâng cao chất lượng và hiệu quả dịch vụ”, tỉnh cũng chú trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, có hàm lượng khoa học, công nghệ cao và phát triển bền vững, như: Du lịch, dịch vụ thương mại, logistics, công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm...

Cùng với đó là việc giảm dần tỷ trọng ngành công nghiệp khai khoáng, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất phụ trợ. Lĩnh vực sản xuất công nghiệp của tỉnh hiện đang kết hợp hài hòa giữa duy trì ổn định các ngành công nghiệp có lợi thế, như: Than, điện, xi măng, vật liệu xây dựng, sửa chữa tàu biển... theo hướng ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất, nâng cao hiệu suất, bảo vệ môi trường.

Song song với đó là việc phát triển công nghiệp có chọn lọc, ưu tiên phát triển công nghệ cao, công nghệ sạch, công nghiệp văn hóa, giải trí; chú trọng đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, hướng đến các khu công nghiệp chuyên sâu; thu hút đầu tư mạnh cho mảng công nghệ. 

Hệ thống xử lý nước thải Khu công nghiệp Việt Hưng (TP Hạ Long) ứng dụng Công nghệ sử dụng: Màng vi sinh chuyển động - MBBR
Hệ thống xử lý nước thải KCN Việt Hưng (TP Hạ Long) ứng dụng công nghệ Màng vi sinh chuyển động - MBBR. Ảnh: Sở KH&CN cung cấp

Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tỉnh luôn gắn chặt với công tác bảo vệ môi trường. Đặc biệt, triển khai Nghị quyết số 12-NQ/TU của Tỉnh ủy về bảo vệ môi trường giai đoạn 2018-2022 và Nghị quyết 16-NQ/TU ngày 9/5/2019 của Tỉnh ủy về tăng cuờng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý tài nguyên than, khoáng sản, tỉnh đã tích cực chỉ đạo, thực hiện việc kiểm tra hoạt động khai thác, tập kết, chế biến, vận chuyển, tiêu thụ than, bã sàng và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; chấm dứt hoạt động và di dời, bàn giao mặt bằng Nhà máy sàng tuyển than Nam Cầu Trắng; kiểm tra hoạt động xử lý rác tại Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Hoành Bồ.

Đồng thời, tăng cường giám sát chặt chẽ hoạt động của các trạm quan trắc môi trường tự động; kiểm soát, bảo vệ nghiêm ngặt môi trường Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long và các vùng biển Vân Đồn, Cô Tô; thực hiện chính sách hỗ trợ chấm dứt hoạt động của các cơ sở sản xuất vôi thủ công trên địa bàn tỉnh; tuyên truyền, vận động nhân dân, khách du lịch giảm thiểu sử dụng rác thải nhựa...

Đến nay, toàn tỉnh đã lắp đặt và sử dụng hiệu quả 139 trạm quan trắc môi trường về nước thải công nghiệp của các ngành than, điện, xi măng và nước thải sinh hoạt; 5/5 khu công nghiệp (Cái Lân, Hải Yên, Đông Mai, Việt Hưng, Hải Hà) đều đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung và trạm quan trắc môi trường tự động. Số liệu từ các trạm quan trắc được truyền tải về trung tâm điều hành, chuyển đến các đồng chí lãnh đạo tỉnh và các địa phương, các phòng TN&MT cấp huyện để theo dõi, giám sát và chuyển về Bộ TN&MT để báo cáo.

Tỉnh cũng đã báo cáo Bộ Xây dựng đề nghị đưa dự án Nhà máy xi măng Thăng Long 2 và dự án Nhà máy sản xuất xi măng Hạ Long 2 ra khỏi chiến lược phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam; tích cực triển khai, rà soát lộ trình kết thúc khai thác than lộ thiên trên địa bàn TP Hạ Long theo Quyết định 403/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Chính phủ...

Với nhiều giải pháp đồng bộ, năm 2019, tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh ước đạt 12,1%, vượt 0,5% so với chỉ tiêu Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra. Đây là mức tăng trưởng cao trên 10% trong 4 năm liên tiếp. Trong đó, kinh tế chuyển biến tích cực, nhất là với ngành dịch vụ và công nghiệp với mức tăng trưởng cao, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt 13,1%, tuy thấp hơn so với kịch bản đề ra (14,3%) nhưng là mức tăng trưởng nhanh kỷ lục trong suốt giai đoạn vừa qua (giai đoạn 2011-2015 tăng trung bình 8,8%/năm; giai đoạn 2016-2018 là 11,9%/năm).

Những nỗ lực của Quảng Ninh được Trung ương đánh giá cao trong thực hiện mô hình tăng trưởng, chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”. Đây là nền tảng vững chắc để Quảng Ninh tiếp tục phát triển toàn diện, trở thành một tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, trung tâm du lịch quốc tế, một trong những cực tăng trưởng của miền Bắc.

Minh Hà

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.