Đánh giá sức tải môi trường biển để phát triển thủy sản bền vững

Thứ Bảy, 06/07/2019, 14:57 [GMT+7]
.
.

Bên cạnh những thành tựu nổi bật đã đạt được, hiện hoạt động nuôi trồng thủy sản (NTTS) của Quảng Ninh cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Trong đó, việc đánh giá sức tải môi trường biển được cho là giải pháp cấp thiết và quan trọng, làm căn cứ xây dựng kế hoạch chi tiết sử dụng khu vực biển để NTTS, phù hợp với chủ trương phát triển bền vững của tỉnh.

Hiện việc
Hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có gần 10.000 ô lồng nuôi trồng thủy sản.

Kinh tế thủy sản là một lĩnh vực quan trọng trong ngành nông nghiệp của tỉnh, chiếm tỷ trọng trên 52% toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Trong xu thế tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, các khu công nghiệp được xây dựng dọc bờ biển, diện tích NTTS thuận lợi ngày càng thu hẹp đòi hỏi phải chuyển dịch nuôi trồng từ quảng canh sang thâm canh, ứng dụng công nghệ cao. Ngoài ra cần phải mở rộng phát triển ngành NTTS  ra phía biển. Do đó, tỉnh chủ trương thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nội ngành từ khai thác thủy sản là chủ yếu (chiếm 64% năm 2013) sang NTTS là chủ yếu (phấn đấu đến năm 2020 chiếm trên 52%). Trong đó, chú trọng chuyển đổi hình thức NTTS truyền thống (trong eo ngách, vật liệu làm lồng bè kém bền vững thân thiện môi trường) sang nuôi công nghiệp, sử dụng thức ăn công nghiệp, ứng dụng công nghệ NTTS hiện đại trên thế giới.

Hoạt động NTTS đã mang lại những tác động tích cực đối với xã hội nhưng có nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường. Các thủy vực ven bờ thường tiếp nhận lượng lớn chất thải ngày càng tăng từ các hoạt động dân sinh và kinh tế tại chỗ và trên lưu vực. Nguồn thải chính từ hoạt động NTTS chủ yếu là các chất hữu cơ từ thức ăn thừa, phân vô cơ, hóa chất bảo vệ thực vật và tập trung chủ yếu ở hình thức nuôi tôm công nghiệp và nuôi cá lồng bè. Đây là nguồn thải có ảnh hưởng trực tiếp làm giảm sức chịu tải của môi trường thủy lực.

Hiện chưa có kết quả thống kê chính xác, tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia, hàng năm sẽ có hàng nghìn tấn chất thải từ hoạt động này và phần lớn không được xử lý mà đổ trực tiếp ra biển, gây ô nhiễm cho vùng nước ven bờ, ảnh hưởng tới môi trường và hệ sinh thái. Trong đó, khả năng tự làm sạch và sức chịu tải môi trường của chúng có giới hạn, lượng chất thải đưa vào đến một mức nào đó sẽ vượt ngưỡng chịu tải, gây tổn thất và suy thoái môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe hệ sinh thái và con người. Dưới áp lực phát triển, lượng chất thải đưa xuống các thủy vực ven bờ ngày càng tăng, tất yếu sẽ đến trạng thái đạt tải, vượt tải và dẫn đến khủng hoảng môi trường.

Hoạt động
Nguồn thải từ các hoạt động nuôi trồng thủy sản sẽ trực tiếp làm giảm sức chịu tải của môi trường biển.

Theo TS. Cao Thị Thu Trang (Viện Tài nguyên và Môi trường biển), kinh nghiệm từ nhiều nước cho thấy, chi phí cho việc cải tạo môi trường còn lớn hơn gấp nhiều lần so với chi phí sử dụng để phòng ngừa ô nhiễm. Vì vậy, việc đánh giá được sức chịu tải môi trường cho phép chúng ta hiểu biết được tiềm năng chịu tải và năng lực còn cho phép để điều chỉnh các hoạt động KT-XH, đưa ra các giải pháp quản lý và kỹ thuật phù hợp nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững các thủy vực này.

Nhằm xác định vùng nuôi cá biển quy mô công nghiệp phù hợp cho tỉnh, trong năm nay, Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam dự kiến sẽ triển khai hoạt động đánh giá sức tải môi trường biển tại khu vực TP Cẩm Phả từ nguồn vốn không hoàn lại của Đại sứ quán Đan Mạch.

Hiện tại, khu vực Cẩm Phả đang có một đơn vị đề xuất đầu tư xây dựng nuôi cá biển quy mô công nghiệp theo công nghệ Na Uy với diện tích 60ha. Tỉnh đã đồng ý chủ trương và đang tiến hành thủ tục lựa chọn nhà đầu tư theo quy định. Vì vậy, Sở cũng đã có văn bản đề xuất UBND tỉnh đồng ý tiếp nhận hoạt động đánh giá sức tải môi trường biển tại khu vực này.

Ông Nguyễn Văn Công, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết: Ngay sau khi được sự đồng ý của UBND tỉnh, Sở sẽ phối hợp với Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam triển khai các hoạt động thu thập dữ liệu thông tin; khảo sát nhanh trên biển cho khu vực nuôi cá biển; mô hình hóa và ước tính sức tải của môi trường; lập bản đồ các khu vực tiềm năng để phát triển nuôi biển công nghiệp ngoài khơi; nâng cao năng lực của chính quyền… Đây là những hoạt động vô cùng ý nghĩa, làm nền tảng xây dựng kế hoạch chi tiết sử dụng khu vực biển để phát triển NTTS theo hướng bền vững, thân thiện môi trường.

Hoàng Nga

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.