Chuẩn bị kỳ họp thứ 13, HĐND tỉnh khoá XIII

Nâng mức chuẩn nghèo, cận nghèo ở khu vực thành thị

Thứ Sáu, 05/07/2019, 07:52 [GMT+7]
.
.

Tại kỳ họp thứ 13 - kỳ họp thường lệ giữa năm 2019 của HĐND tỉnh khóa XIII, diễn ra trong tháng 7 này, UBND tỉnh sẽ có tờ trình về nâng mức chuẩn nghèo, cận nghèo tiếp cận đa chiều và các chính sách hỗ trợ giảm nghèo, áp dụng đối với các thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí.

a
Cán bộ khu phố đến thăm gia đình chị Nguyễn Thúy Nga (thứ hai, trái sang), hộ cận nghèo ở tổ 1, khu 5, phường Hồng Hà, TP Hạ Long.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2018, các chính sách hỗ trợ cho các hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn tỉnh đã góp phần nâng cao đời sống của người dân. Đến cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm còn 1,2%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn chiếm 78,35% tổng số hộ nghèo toàn tỉnh; các thành phố thuộc tỉnh cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội những năm qua của tỉnh, mức sống tối thiểu của người dân tăng theo, dẫn đến chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg (700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị) chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu bảo đảm mức sống tối thiểu của người dân, đặc biệt một số vùng, địa phương có điều kiện kinh tế phát triển như TP Hạ Long, TP Cẩm Phả, TP Uông Bí. Bởi thực tế, mức lương tối thiểu đã tăng từ tháng 7/2018 (từ 1.300.000 đồng lên 1.390.000 đồng), đến ngày 1/7/2019 tăng lên 1.490.000 đồng. Chỉ số giá tiêu dùng hằng năm đều tăng (năm 2018 là tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước); giá viện phí cũng tăng từ ngày 15/1/2019. Mức sống tối thiểu của người dân tăng theo, dẫn đến chuẩn nghèo hiện hành không còn phù hợp với mức sống của đa số người dân thuộc các khu vực thành phố của tỉnh.

Theo khảo sát của UBND tỉnh, tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước, như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương và TP Hồ Chí Minh đều đã nâng chuẩn nghèo, cận nghèo của địa phương lên từ 35% đến trên 50% so với quy định của Trung ương để tiếp tục trợ giúp các hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn mới.

Trước tình hình đó, để phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế của các địa phương trên địa bàn tỉnh, làm cơ sở pháp lý, thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung và các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội đối với các khu vực được nâng chuẩn nghèo, cận nghèo nói riêng; đồng thời, đảm bảo mục tiêu là nâng chuẩn nghèo của tỉnh cao hơn chuẩn nghèo của Trung ương quy định từ 30-50% đã đề ra tại Chương trình hành động số 12-CTr/TU ngày 25/9/2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, UBND tỉnh đã có tờ trình HĐND tỉnh xem xét, ban hành nghị quyết về việc nâng chuẩn nghèo, cận nghèo tiếp cận đa chiều và các chính sách hỗ trợ giảm nghèo, áp dụng đối với các khu vực thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí.

Theo đó, tỉnh dự kiến nâng chuẩn nghèo, cận nghèo của tỉnh bằng 1,3 lần so với chuẩn nghèo, cận nghèo của Trung ương theo quy định của Thủ tướng Chính phủ từng thời kỳ. Theo chuẩn mới, hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng bằng chuẩn nghèo của tỉnh trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên chuẩn nghèo của tỉnh đến chuẩn cận nghèo của tỉnh và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên chuẩn nghèo của tỉnh đến chuẩn cận nghèo của tỉnh và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ có mức sống trung bình là hộ  có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng bằng mức sống trung bình theo quy định Thủ tướng Chính phủ từng thời kỳ.

Dự kiến sau nâng chuẩn, số hộ nghèo tăng thêm là 694 hộ, số hộ cận nghèo tăng thêm là 2.510 hộ.

Việc nâng chuẩn nghèo, cận nghèo tiếp cận đa chiều và ban hành các chính sách hỗ trợ giảm nghèo, áp dụng đối với các thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí là rất cần thiết và phù hợp với yêu cầu khách quan, sẽ tạo điều kiện cho một bộ phận hộ cận nghèo theo chuẩn Trung ương, một bộ phận hộ hiện nay có mức sống trung bình (trong đó có một số hộ mới thoát chuẩn hộ nghèo, chuẩn hộ cận nghèo theo quy định của Trung ương) thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn mới. Qua đó, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, tạo điều kiện cho các hộ có điều kiện phát triển sản xuất, tăng thu nhập, ổn định và nâng cao mức sống, thoát nghèo bền vững.

Thu Chung

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.