Quản lý chặt chẽ rừng đầu nguồn hồ Yên Lập

Thứ Hai, 27/05/2019, 11:56 [GMT+7]
.
.

Cử tri TX Quảng Yên đề nghị tỉnh tiếp tục chỉ đạo các ngành, địa phương có biện pháp quản lý chặt chẽ rừng đầu nguồn hồ Yên Lập, không làm ảnh hưởng đến nguồn nước khai thác phục vụ trực tiếp cho sản xuất và sinh hoạt của người dân khu vực TX Quảng Yên, TP Hạ Long và TP Uông Bí.

Đập chính hồ Yên Lập
Đập chính hồ Yên Lập.

Hiện lưu vực rừng phòng hộ đầu nguồn cung cấp nước cho hồ Yên Lập có tổng diện tích 16.327,5ha; trong đó rừng phòng hộ 12.263,4ha, rừng sản xuất 4.064,1ha, đất có rừng 15.311ha (chiếm 94%). Nhận thức được vai trò quan trọng của hồ chứa nước Yên Lập là hồ chứa nước ngọt lớn nhất của tỉnh cung cấp toàn bộ nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân khu vực Quảng Yên, Hạ Long và Uông Bí, những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng đối với lưu vực rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Yên Lập luôn được tỉnh quan tâm chỉ đạo.

Đặc biệt, năm 2014, UBND tỉnh có Văn bản số 2467/UBND-MT về việc triển khai các công tác bảo vệ môi trường (BVMT) cho khu vực hồ Yên Lập. Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các đơn vị khai thác than trong lưu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập phải có lộ trình chấm dứt hoạt động khai thác than, đồng thời không quy hoạch các bãi sàng tuyển, bãi đổ thải trong lưu vực hồ để tránh ô nhiễm nguồn nước, bồi lắng lòng hồ; phải thực hiện nghiêm túc các biện pháp bảo vệ môi trường đã cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường và dự án cải tạo phục hồi môi trường đã được phê duyệt; khi trồng rừng cải tạo phục hồi môi trường phải lựa chọn loài cây bản địa; có biện pháp thu gom xử lý chất thải nguy hại, nước thải sản xuất, sinh hoạt phát sinh trong quá trình hoạt động khai thác than.

Bên cạnh đó, Sở NN&PTNT đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm thực hiện tốt công tác trồng rừng và chăm sóc rừng tại khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập; từ năm 2016-2018 đã trồng được trên 133,48ha rừng thuộc nguồn vốn từ chương trình trồng rừng thay thế của tỉnh. Đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương tăng cường các biện pháp tuyên truyền về phòng, chống cháy rừng; kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, nguồn nước. Qua đó, đã góp phần cải tạo và nâng cao chất lượng rừng, tăng khả năng giữ nước, hạn chế bồi lắng lòng hồ; tạo cảnh quan du lịch cho khu vực hồ Yên Lập. Trong năm 2018, BQL rừng phòng hộ hồ Yên Lập đã kiểm tra, phát hiện, lập biên bản xử lý 19 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

Từ chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở NN&PTNT, từ năm 2010-2018, hồ Yên Lập luôn đảm bảo đủ số lượng nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân khu vực TX Quảng Yên, TP Hạ Long và TP Uông Bí vào tháng kiệt nhất mùa khô (tháng 5); lượng nước trong hồ tồn dư lớn nhất là 79 triệu m3 (năm 2013), nhỏ nhất là 29,8 triệu m3 (năm 2010). Chất lượng nước tại hồ Yên Lập được Trung tâm Quan trắc TN&MT (Sở TN&MT) lấy mẫu phân tích đánh giá định kỳ (trung bình 3 tháng/lần); kết quả quan trắc các tháng 1, 4, 7, 10/2018, chất lượng nước luôn đảm bảo theo Quy chuẩn quốc gia QCVN08-MT:2015/BTNMT, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, công nghiệp.

Một số diện tích rừng chưa đảm bảo về mật độ và chất lượng. Ảnh: Việt Hoa (chụp tháng 6/2018)
Một số diện tích rừng ven hồ Yên Lập chưa đảm bảo về mật độ và chất lượng. Ảnh: Việt Hoa (chụp tháng 6/2018)

Đồng chí Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết: Để đảm bảo số lượng, chất lượng nước của hồ Yên Lập đáp ứng nhu cầu về nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, Sở đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các đơn vị khai thác than tại lưu vực hồ Yên Lập đẩy nhanh tiến độ khai thác đã được cấp phép để sớm giải phóng mặt bằng và phục hồi rừng tại các khu vực đã kết thúc khai thác. Các sở, ngành, địa phương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về tình hình tuân thủ các cam kết BVMT theo báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt, nhất là đối với các công trình BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản của các công ty trong khu vực thượng nguồn hồ Yên Lập; có biện pháp xử lý nghiêm đối với các đơn vị vi phạm quy định về BVMT đối với các khu vực sàng tuyển, bãi chứa than sau sàng tuyển và các khu vực tập kết đổ thải. Đặc biệt, cần có cơ chế chính sách để các chủ rừng tham gia vào hoạt động trồng, khai thác rừng và hưởng lợi các sản phẩm từ rừng theo quy chế quản lý rừng phòng hộ, đảm bảo hài hoà lợi ích giữa cộng đồng dân cư với bảo vệ rừng.

Thu Trang

.
.
.
.
.
.
.
.