Hiện đại hóa ngân hàng

Thứ Hai, 14/01/2019, 08:21 [GMT+7]
.
.

Theo đánh giá của người dân và doanh nghiệp, so với thời điểm 1-2 năm trước đây, mức lãi suất cho vay tại các ngân hàng hiện nay đã thấp hơn, thủ tục vay vốn nhanh chóng, thuận tiện hơn, tạo điều kiện cho nhiều khách hàng vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh.

Tin liên quan

Khách hàng giao dịch tại Viecombank chi nhánh Móng Cái.
Khách hàng giao dịch tại Vietcombank Chi nhánh Móng Cái.

Hiện các ngân hàng đang thực hiện mức lãi suất huy động VNĐ kỳ hạn từ 1-6 tháng ở mức tối đa 5,5%; kỳ hạn từ 6-12 tháng từ 5,3-6,5%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng cao nhất là 7,3%/năm. Đối với lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay ngắn hạn đối với 5 lĩnh vực ưu tiên tối đa 6-6,5%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn các lĩnh vực khác phổ biến từ 6-9%/năm; lãi suất cho vay trung, dài hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên từ 9-11%/năm, các lĩnh vực khác phổ biến từ 10,5-12%/năm.

Đáng chú ý, vốn tín dụng được tập trung đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh, cơ cấu cho vay tiếp tục dịch chuyển phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tập trung đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, nông thôn. Qua đó, góp phần vào tăng trưởng tín dụng đến 31/12/2018 trên địa bàn tỉnh đạt 116.000 tỷ đồng, tăng 10,2% so với 31/12/2017. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 48.500 tỷ đồng, tăng 8,6%, chiếm tỷ trọng 41,8% tổng dư nợ; dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 67.500 tỷ đồng, tăng 11,4%, chiếm tỷ trọng 58,2% tổng dư nợ. Về dư nợ cho vay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh đạt 88.570 tỷ đồng, tăng 10,3% so với 31/12/2017, chiếm 76,3% tổng dư nợ; dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất  đạt 27.430 tỷ đồng, tăng 9,8% so với 31/12/2017, chiếm 23,7% tổng dư nợ.

Cùng với điều hành lãi suất cho vay, hoạt động hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư tiếp tục được ngành Ngân hàng triển khai thực hiện quyết liệt. Trong năm, NHNN Chi nhánh Quảng Ninh cùng với các ngân hàng trên địa bàn tỉnh đã tổ chức làm việc, duy trì kênh thông tin với Hiệp hội doanh nghiệp Quảng Ninh; tham gia các Hội nghị tiếp xúc doanh nghiệp, doanh nhân Quảng Ninh do UBND tỉnh tổ chức để tháo gỡ vướng mắc, khó khăn của các doanh nghiệp, hộ dân về lĩnh vực ngân hàng; đồng thời tuyên truyền, phổ biến các chương trình, chính sách hỗ trợ của ngân hàng đối với doanh nghiệp trong quá trình thành lập, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hỗ trợ doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh; tiếp nhận và giải đáp các ý kiến, kiến nghị của các doanh nghiệp liên quan đến tín dụng, thanh toán, ngoại hối.

Ông Nguyễn Văn Đoan, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Quảng Ninh, cho biết: Năm 2018, các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đã tích cực đổi mới tác phong làm việc, rà soát, cắt bỏ, đơn giản hóa các thủ tục, giấy tờ trong giao dịch, đẩy nhanh việc thẩm định hồ sơ vay vốn, giảm thiểu tối đa thời gian, chi phí cho khách hàng, góp phần nâng cao chỉ số tiếp cận vốn, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Đồng thời, tiếp tục phối hợp với cơ quan thuế và đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn thực hiện thu nộp thuế điện tử, tăng tính công khai, minh bạch, rút ngắn thời gian kê khai và nộp thuế của các doanh nghiệp, góp phần thực hiện cải cách hành chính và thực hiện chính quyền điện tử tại tỉnh Quảng Ninh. Riêng đối với NHNN Chi nhánh Quảng Ninh, đã tiếp tục triển khai, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 trong hoạt động, nhất là trong cải cách TTHC nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công của NHNN. Các TTHC được tiến hành rà soát, đơn giản hóa; công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của NHNN, Cổng thông tin điện tử tỉnh và thực hiện niêm yết tại trụ sở cơ quan; thực hiện cơ chế một cửa trong giải quyết TTHC. 100% thủ tục hành chính tại NHNN Chi nhánh Quảng Ninh được thực hiện trong môi trường mạng ở mức “Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2”, một số ở mức “Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3”.

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, năm 2019, ngành Ngân hàng tập trung chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện mở rộng tín dụng, kiểm soát tín dụng phù hợp với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, khả năng huy động vốn và tình hình phát triển KT-XH của địa phương. Nguồn vốn tín dụng vẫn ưu tiên cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao, các dự án, công trình trọng điểm thuộc chương trình mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh.

Song song với đó, các TCTD tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại trong phát triển các dịch vụ ngân hàng, phát triển các hình thức thanh toán, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn; phối hợp với các cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc Nhà nuớc, liên kết với các tổ chức cung ứng dịch vụ phục vụ đời sống, dịch vụ du lịch, tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng cho hoạt động thanh toán, đảm bảo các hoạt động thanh toán ổn định, an toàn và thông suốt.

Hồng Nhung

.
.
.
.
.
.
.
.