TKV: Bứt phá trong sản xuất, tiêu thụ than

Thứ Hai, 02/07/2018, 16:29 [GMT+7]
.
.

Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng với sự nỗ lực bứt phá của toàn ngành, 6 tháng đầu năm 2018, sản xuất, tiêu thụ than của TKV có những khởi sắc, nhiều đơn vị đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu, kế hoạch đề ra.

Khai thác than ở Công ty Than Vàng Danh (Ảnh: Phạm Tăng)
Khai thác than ở Công ty Than Vàng Danh. Ảnh: Phạm Tăng

Khởi sắc trong tiêu thụ

Theo báo cáo của các đơn vị sản xuất than khu vực miền tây, 6 tháng đầu năm 2018, Công ty Kho vận Đá Bạc và các đơn vị đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch SXKD, đạt từ 52-55% kế hoạch năm (KHN) trở lên; than tiêu thụ đạt 5,2 triệu tấn, bằng 62% KHN; riêng trong quý II, giảm tồn kho trên 700.000 tấn so với kế hoạch đặt ra là 500.000 tấn... Đây là tín hiệu vui của vùng than miền tây và cả TKV, bởi khu vực này vốn đang chiếm lượng than tồn chủ yếu của TKV.

Kết quả trên là do sự nỗ lực của các đơn vị trong thực hiện chỉ đạo điều hành của Tập đoàn. Cụ thể các đơn vị đã bám sát thị trường, điều hành linh hoạt, đẩy mạnh các giải pháp thực hiện kế hoạch, phối hợp tốt trong SXKD, tiêu thụ, thực hiện than chuyển vùng, sản xuất các chủng loại than đáp ứng nhu cầu khách hàng, giảm tồn kho. Đồng thời phát huy các tuyến băng tải, kho, cảng đảm bảo công suất thiết kế, hiệu quả đầu tư, đồng bộ trong sản xuất, chế biến, vận chuyển, tiêu thụ... Một số đơn vị có kết quả sản xuất đạt hiệu quả cao là Than Nam Mẫu (68% KHN), Than Vàng Danh (58,5% KHN), Than Mạo Khê (54% KHN).

Không chỉ khu vực miền tây có kết quả tích cực, 6 tháng đầu năm 2018 các đơn vị vùng than Hòn Gai, Cẩm Phả cũng đều hoàn thành từ 52-62% KHN. Vùng Cẩm Phả, than tiêu thụ đạt 58% KHN; than chuyển vùng đạt 65% KHN. Vùng Hòn Gai, than tiêu thụ đạt 60% KHN.

Nhiều đơn vị, sản lượng than khai thác đạt cao như Cao Sơn (58,5% KHN), Đèo Nai (70% KHN), Tây Nam Đá Mài (62,5% KHN), Dương Huy (60% KHN), Hòn Gai (60% KHN), Hà Tu (58% KHN), Hà Lầm (60% KHN). Cùng với đó, các đơn vị như Tuyển than Cửa Ông, Kho vận Cẩm Phả, Tuyển than Hòn Gai, Vật tư, Chế tạo máy, Giám định, Hoa tiêu hàng hải, Vận tải thủy... cũng đã hoàn thành kế hoạch từ 55% đến trên 60% KHN.

6 tháng đầu năm, toàn Tập đoàn sản xuất được khoảng 20,27 triệu tấn than nguyên khai, đạt 57% kế hoạch; tiêu thụ 21,6 triệu tấn than, đạt 60% kế hoạch (trong nước: 20,7 triệu tấn, xuất khẩu: 900.000 tấn); bóc tổng số 73,38 triệu m3 đất đá, đạt 53,4% kế hoạch, đào tổng số 117.200m lò, đạt 52% kế hoạch; sản phẩm alumina 660.000 tấn, đạt 54% kế hoạch; đồng tấm 6.200 tấn, đạt 52% kế hoạch; kẽm thỏi 5.400 tấn, đạt 50% kế hoạch; sản xuất điện 5,1 tỷ kWh, đạt 55% kế hoạch; sản xuất 35.500 tấn thuốc nổ.

Dự kiến tồn kho than sạch 7 triệu tấn (giảm 2 triệu tấn so với đầu năm). Sản xuất tăng trưởng đã tạo điều kiện cho công tác chăm lo đời sống người lao động được tốt hơn, lương bình quân ở nhiều đơn vị đạt trên 11 triệu đồng/người/tháng; nhiều đơn vị xây thêm nhà ở cho công nhân, xây nhà ăn tự chọn đảm bảo dưỡng chất cho người lao động...

Nhà ăn tự chọn phục vụ cho 1000 người lao động của Công ty than Khe Chàm (Ảnh:  Việt Trung)
Nhà ăn tự chọn phục vụ 1.000 người lao động của Công ty Than Hạ Long. Ảnh: Việt Trung (CTV)

Dồn lực để về đích

Theo kế hoạch, năm 2018 TKV sẽ sản xuất 35,36 triệu tấn than nguyên khai, tiêu thụ 36 triệu tấn. Tuy nhiên, ngay trong tháng kết thúc quý II, Tập đoàn đã xây dựng kịch bản tăng trưởng sản xuất - tiêu thụ than năm 2018 lên phương án 38 triệu tấn/năm.

Để hoàn thành được mục tiêu này, ông Đặng Thanh Hải, Tổng Giám đốc TKV yêu cầu các đơn vị chuẩn bị tốt mọi điều kiện cho SXKD; đảm bảo các chỉ tiêu sản lượng chính như: Than sản xuất, tiêu thụ, đất bóc, mét lò; chuẩn bị chân hàng, sản xuất, chế biến các chủng loại than đáp ứng nhu cầu thị trường, phục vụ khách hàng tốt nhất; tăng cường công tác quản trị chi phí, thực hành tiết kiệm; tiếp tục thực hiện tái cơ cấu, cổ phần hóa doanh nghiệp; phối hợp với địa phương bảo vệ tài nguyên, ranh giới mỏ, chống thất thoát than.

Đồng thời, nêu cao tinh thần đoàn kết, phát huy dân chủ, phát huy sức mạnh tập thể, nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan điều hành, HĐQT trong các lĩnh vực, đảm bảo chỉ tiêu lợi nhuận, nâng cao hiệu quả SXKD...

Cụ thể, trong quý III tiếp tục tập trung tăng cường tiêu thụ, giảm tồn kho than; đẩy mạnh quản trị chi phí, quản lý vật tư; chuẩn bị tốt chân hàng, cơ cấu chủng loại, chất lượng than đáp ứng cho khách hàng, nhất là than cho nhiệt điện... Các đơn vị vùng miền tây phải tăng sản lượng, do đó phải rà soát các dự án đầu tư, nâng sản lượng đạt công suất thiết kế, đảm bảo hiệu quả đầu tư; tăng cường áp dụng công nghệ hiện đại phù hợp với từng đơn vị; phối hợp, hỗ trợ các đơn vị xây lắp mỏ, cơ khí cùng phát triển, tiếp tục thực hiện tốt công tác môi trường...

Song song với đó, các đơn vị cũng chú trọng thực hiện công tác ATVSLĐ, giảm thiểu các vụ TNLĐ; đẩy nhanh các dự án đầu tư; tiếp tục thực hiện tái cơ cấu, sắp xếp lại tổ chức sản xuất hợp lý, tinh giản lao động đảm bảo công khai, minh bạch và quyền lợi của người lao động; bảo vệ tài nguyên, môi trường...

Đặng Nhung

.
.
.
.
.
.
.
.