Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Long: Đảm bảo tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2018 đạt 10,6%

Thứ Năm, 12/07/2018, 10:15 [GMT+7]
.
.

Thay mặt UBND tỉnh báo cáo tình hình kinh tế - xã hội và công tác chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2018 tại Kỳ họp thứ 8, HĐND tỉnh khóa XIII, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Long khẳng định, tập trung thực hiện các giải pháp đảm bảo tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh năm 2018 đạt 10,6%.

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM

6 tháng đầu năm 2018, kế thừa những kết quả đạt được, quán triệt, thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018; xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành quyết liệt, cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp; nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018 đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng trên các lĩnh vực, tạo tiền đề thực hiện thắng lợi toàn diện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2018, cụ thể:

Về tăng trưởng và phát triển kinh tế:

h3.jpg
Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Long phát biểu tại Kỳ họp.

- Kinh tế tiếp tục phát triển, tăng trưởng cao. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt 10,16%, cao nhất so với cùng kỳ 6 năm trở lại đây. Giá trị tăng thêm của Khu vực I: Nông, lâm, thủy sản tăng 3,29%; khu vực II: Công nghiệp - Xây dựng tăng 8,58%. Thuế sản phẩm tăng 11,13%. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng: Khu vực nông - lâm - thủy sản 5,9%, giảm 0,4%; Khu vực công nghiệp - xây dựng 51,2%, giảm 0,1%; Khu vực dịch vụ 42,9%, tăng 0,5% so với năm 2017.

- Khu vực công nghiệp tăng khá, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. Chỉ số phát triển sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 7,32% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành chế biến, chế tạo tăng 15,15%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt tăng 8,8%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 9,02%; ngành khai khoáng tăng 2,7%. Động lực chủ yếu đóng góp vào tăng trưởng chung vẫn là ngành khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo.

- Khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản ổn định; các doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi tiếp tục mở rộng sản xuất, phát triển quy mô đàn gia súc, gia cầm, tăng từ 1,2% - 6,5% so với cùng kỳ; sản lượng thủy sản tăng 7% so với cùng kỳ; tỷ lệ che phủ rừng đạt 54,43%, tăng 0,33% cùng kỳ. Chương trình xây dựng nông thôn mới, Đề án 196 được các cấp, các ngành tích cực triển khai, với tổng kinh phí năm 2018 đã bố trí 570 tỷ đồng; thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp phát triển sản phẩm OCOP, đến nay đã có 139 đơn vị tham gia, với 337 sản phẩm OCOP.

- Khu vực dịch vụ sôi động, có nhiều khởi sắc, đạt mức tăng trưởng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 42.597 tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ. Nhiều cơ sở dịch vụ tại các điểm du lịch, khu danh thắng, công viên, sản phẩm du lịch mới được đầu tư và đưa vào khai thác, tạo dấu ấn đặc sắc, tăng sức hấp dẫn, lưu giữ du khách dài ngày hơn như: Quần thể trung tâm hội nghị, khu dịch vụ, du lịch nghỉ dưỡng và biệt thự FLC, Sân golf Ngôi sao Hạ Long, Quảng trường mặt trời Hạ Long...Tổng số khách du lịch đạt 7,5 triệu lượt khách, tăng 26% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế đạt 2,4 triệu lượt, tăng 14%; doanh thu du lịch đạt 12.787 tỷ đồng, tăng 31% so với cùng kỳ. Hoạt động vận tải, dịch vụ bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển. Kim ngạch xuất khẩu đạt 815 triệu USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu đạt 1.078 triệu USD, tăng 26% cùng kỳ. Tuy nhiên, hoạt động tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu giảm mạnh, đạt 944 triệu USD, giảm 31% cùng kỳ; thu phí sử dụng kết cấu hạ tầng cửa khẩu đến 30/6/2018 đạt 92,8 tỷ đồng, bằng 40% dự toán, giảm 8% cùng kỳ.

- Môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tiếp tục được cải thiện; công tác hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp được quan tâm. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2017, lần đầu tiên Quảng Ninh vươn lên vị trí dẫn đầu cả nước. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 23.359 tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ. Cấp mới, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 28 dự án, với tổng mức đăng ký đầu tư trên 9.607 tỷ đồng; có 1.300 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 45% KH (KH 2.880 doanh nghiệp), tăng 20% so với cùng kỳ, tổng vốn đăng ký 10.300 tỷ đồng, tăng 139%; đến nay toàn tỉnh có 16.450 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký là 155.850 tỷ đồng.

- Thu ngân sách nhà nước có nhiều cố gắng, đảm bảo tiến độ dự toán; kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách được tăng cường. Tính đến 30/6/2018, Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 21.046 tỷ đồng, bằng 58% dự toán, tăng 17% so với cùng kỳ (tăng 48 tỷ đồng so với Báo cáo 116 đã trình HĐND tỉnh); trong đó: Thu xuất nhập khẩu 5.118 tỷ đồng, bằng 85% dự toán, tăng 10% so với cùng kỳ; Thu nội địa 15.928 tỷ đồng, bằng 52% dự toán, tăng 19% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách địa phương đạt 8.445 tỷ đồng, bằng 36% dự toán năm, tăng 26% cùng kỳ. Tổng vốn ngân sách đã bố trí cho chi đầu tư phát triển đầu năm là 9.389 tỷ đồng, đến tháng 6/2018 ngân sách tỉnh và các địa phương đã bố trí là 14.234 tỷ đồng, chiếm 60,9% tổng dự toán chi ngân sách địa phương, giải ngân chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 4.351 tỷ đồng, bằng 46% dự toán giao đầu năm.

a
 

Về thực hiện ba đột phá chiến lược tiếp tục được tập trung chỉ đạo quyết liệt. 

- Chú trọng xây dựng thể chế, cải cách hành chính. Tỉnh tập trung hoàn thiện Đề án thành lập Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn; chủ động, tích cực tham gia xây dựng dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; hoàn thiện Đề án trình Thủ tướng Chính phủ xin phép thành lập Khu kinh tế ven biển Quảng Yên, với những cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội, tạo sức cạnh tranh khu vực và quốc tế; đồng thời đề xuất, thông qua một số cơ chế, chính sách trên một số lĩnh vực, góp phần phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Công tác cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính được triển khai quyết liệt, theo hướng giảm thủ tục, giảm thời gian giải quyết; tăng thủ tục hành chính thực hiện đủ 04 bước “Tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt và trả kết quả” tại chỗ và tăng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, cấp độ 4; đưa 231 điểm cầu trực tuyến tại 186 xã và các đơn vị vào sử dụng phát huy hiệu quả đầu tư. Năm 2017, Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) dẫn đầu 63 tỉnh, thành phố; Chỉ số SIPAS đứng thứ 5 toàn quốc; Chỉ số PAPI đứng vị trí 32/63 tỉnh thành phố, tăng 30 bậc so với năm 2016; chỉ số mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin (ICT Index) đứng vị trí thứ 4. Đề án Chính quyền điện tử giai đoạn 2, Đề án xây dựng mô hình thành phố thông minh được tập trung triển khai.

- Nhiều dự án, công trình đầu tư kết cấu hạ tầng quan trọng, động lực, nhất là các công trình, dự án hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp đã và đang được tỉnh tập trung chỉ đạo, đẩy nhanh tiến độ thi công như: Dự án đường cao tốc nối TP.Hạ Long với TP.Hải Phòng; đường cao tốc Hạ Long - Vân Đồn, Cẩm Hải - Vân Đồn; Cầu Bạch Đằng và nút giao cuối tuyến; Cảng khách quốc tế Hòn Gai; hạ tầng các khu công nghiệp (Cảng Nam Tiền Phong, Texhong Hải Hà, Đầm Nhà Mạc); đặc biệt, ngày 11/7/2018,  tỉnh Quảng Ninh đã đón thành công chuyến bay đầu tiên đến Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Tỉnh đang tích cực chuẩn bị thủ tục đầu tư để sớm khởi công các dự án: Đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, đường bao biển Hạ Long - Cẩm Phả và triển khai lập dự án Hầm đường bộ qua Vịnh Cửa Lục.

- Quan tâm phát triển toàn diện nguồn nhân lực và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Năm 2018, Tỉnh đã phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với 10.220 học viên, tổng kinh phí 55,9 tỷ đồng; xây dựng cơ chế, chính sách thu hút lao động và phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh, theo kế hoạch dự kiến sẽ được thông qua tại kỳ họp HĐND tỉnh vào cuối năm 2018.

Về lĩnh vực văn hóa - xã hội

- Đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội, thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo, đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tổng chi an sinh xã hội 806,6 tỷ đồng, tăng 26% cùng kỳ; hỗ trợ 3.588/3.630 hộ gia đình người có công xây mới, sửa chữa nhà ở, đạt 99% kế hoạch; hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở cho 1.062/1.356 hộ nghèo giai đoạn 2 theo Chương trình 167 đạt 78% kế hoạch; hoàn thành di dân ra khỏi khu vực có nguy cơ sạt lở, nguy hiểm cho 466/558 hộ, đạt 83,5% kế hoạch. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 2,25% xuống còn 1,95%; ước tạo việc làm cho 9.500 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đến nay đạt 73,5%.

- Chất lượng giáo dục tiếp tục chuyển biến tích cực, kỳ thi học sinh giỏi quốc gia đạt 49 giải, tham gia dự thi Olympic quốc tế môn Vật lý khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đạt Huy chương Đồng; tổ chức tốt Kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2018 và kỳ thi tuyển sinh lớp 6, lớp 10 năm học 2018-2019; công tác đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục, đào tạo tiếp tục được tăng cường, toàn tỉnh có 520/643 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 81%; số phòng học kiên cố đạt 91.8%; trên 99,1% cán bộ, giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo.

- Hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc trẻ em đạt nhiều kết quả quan trọng; quan tâm đầu tư hạ tầng y tế như: Bệnh viện đa khoa Cẩm Phả, Trung tâm y tế (Hải Hà, Hoành Bồ, Đông Triều), Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Bãi Cháy; đưa vào vận hành, sử dụng các trang thiết bị dự án xây dựng 3 bệnh viện thông minh. Thành lập Trung tâm kiểm soát bệnh tật trên cơ sở 5 đơn vị tuyến tỉnh. Thiết lập hồ sơ quản lý sức khỏe toàn dân đạt 91% dân số. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 93,9%; số bác sỹ trên 1 vạn dân đạt 14,7 bác sỹ, số giường bệnh trên 1 vạn dân đạt 56,42 giường. Công tác phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn thực phẩm được triển khai tích cực, không để xảy dịch bệnh lớn.

- Các hoạt động văn hóa, thông tin, báo chí, phát thanh truyền hình không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đã kịp thời tuyên truyền đúng trọng tâm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của Tỉnh. Công tác quản lý và tổ chức lễ hội có nhiều tiến bộ. Hoạt động thể dục, thể thao được duy trì và phát triển, đặc biệt là thể thao thành tích cao, với 69 huy chương; tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao tỉnh lần thứ VIII; khánh thành Nhà thi đấu đa năng 5.000 chỗ ngồi đưa vào sử dụng.

h16.jpg
Các đại biểu tham dự kỳ họp.

Về công tác quy hoạch, GPMB, quản lý đất đai, đô thị, tài nguyên, môi trường và khoa học công nghệ được tăng cường. 

- Công tác lập và quản lý quy hoạch tiếp tục được quan tâm, triển khai lập  12 đồ án quy hoạch phân khu chức năng; lập Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội và Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Vân Đồn; lập dự án điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng; điều chỉnh Quy hoạch thăm dò khai thác khoáng sản làm vật liệu thông thường; điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 - 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối của các địa phương; hoàn thành đề án công nhận thành phố Móng Cái là đô thị loại II; đến nay tỷ lệ phủ kín quy hoạch chung đô thị là 100%, quy hoạch phân khu đạt 47%, quy hoạch chi tiết 51,6%; tỷ lệ đô thị hóa đạt 64%. Công tác giải phóng mặt bằng các dự án, công trình được các sở, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo, nhất là đối với các dự án trọng điểm như dự án đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, các dự án hạ tầng KCN, KKT...

- Công tác quản lý nhà nước về đất đai, đô thị, tài nguyên, môi trường được tăng cường, nhất là quản lý đất đai tại các địa phương: Vân Đồn, Móng Cái, Cô Tô, Quảng Yên nhằm ngăn chặn việc giao đất, mua bán, chuyển nhượng và sử dụng đất đai trái pháp luật; 6 tháng đầu năm 2018 đã cho 81 tổ chức thuê 740,9ha đất, giao đất cho 29 tổ chức, với diện tích 131,6 ha, gia hạn thời gian sử dụng đất đối với 24 tổ chức, diện tích 445 ha, thu hồi đất của 31 tổ chức, diện tích 210 ha. Công tác chỉnh trang đô thị, cải tạo lòng đường, vỉa hè, cống thoát nước và hạ ngầm hạ tầng kỹ thuật tại các địa phương Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí được đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành đưa vào sử dụng, bảo đảm mỹ quan đô thị. Tăng cường kiểm soát, ngăn chặn, xử lý kiên quyết, kịp thời hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh doanh than, cát, đá, sỏi trái phép trên địa bàn.

- Các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ đảm bảo tiến độ; đánh giá sơ kết 01 năm thực hiện Nghị quyết số 07 ngày 13/3/2017 của Tỉnh ủy về phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2020; hướng dẫn các địa phương, doanh nghiệp sử dụng địa danh, lập hồ sơ đăng ký nhãn hiệu cho các sản phẩm; đẩy nhanh tiến độ đầu tư Dự án sản xuất tôm giống, tôm thương phẩm siêu thâm canh công nghệ cao tại Đầm Hà để sớm đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Về công tác xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền; tư pháp, thanh tra, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được quan tâm

- Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp không ngừng tăng cường. Tích cực rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, giảm 23 đầu mối tổ chức bên trong các cơ quan hành chính theo tinh thần của Nghị quyết số 18, Nghị quyết số 19 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII; tỉnh đã hợp nhất Ban Tổ chức với Phòng Nội vụ tại 12/14 địa phương, Cơ quan UBKT với Thanh tra cấp huyện tại 13/14 địa phương; sắp xếp lại 02 Ban quản lý dự án của tỉnh và của các sở, ngành; sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập, giảm được 23 đơn vị; giao tự chủ tài chính năm 2018 cho 84 ĐVSN công lập, tăng 15 đơn vị so năm 2017; giao số biên chế công chức, số lượng người làm việc không vượt chỉ tiêu Trung ương giao; công tác quản lý, sử dụng công chức, viên chức, hợp đồng lao động được quản lý chặt chẽ.

- Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết kiến nghị của cử tri được các cấp, các ngành tập trung giải quyết; đồng thời tăng cường thông tin, truyền thông để dư luận hiểu đúng bản chất sự việc, tạo đồng thuận trong xã hội. Các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong tỉnh đã tiếp 4.123 lượt công dân, giảm 11% CK, với 2.739 vụ việc, giảm 10% CK; tiếp nhận, giải quyết 350/488 vụ việc khiếu nại, 17/19 vụ việc tố cáo.

- Công tác thanh tra, kiểm tra đảm bảo đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, tránh chồng chéo. Các cơ quan Thanh tra đã triển khai 69 cuộc thanh tra kinh tế - xã hội; đã ban hành kết luận thanh tra 39 cuộc. Qua công tác thanh tra đã kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước 15,3 tỷ đồng, kiến nghị khác 14,7 tỷ đồng, kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm đối với 11 tập thể, 32 cá nhân; đồng thời thực hiện kiểm toán ngân sách năm 2017, kiểm toán các dự án vốn ngoài ngân sách giai đoạn 2015-2017 và thực hiện các kết luận sau thanh tra, kiểm toán. Chủ động triển khai các giải pháp phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Công tác tư pháp, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý đạt nhiều kết quả.

 Về thực hiện chủ đề công tác năm 2018, "Bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường tự nhiên" được các cấp, các ngành tập trung triển khai; xây dựng Chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 12 ngày 12/3/2018 của Tỉnh ủy về bảo vệ môi trường tỉnh giai đoạn 2018 - 2022. Tập trung tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên và môi trường; kiểm soát chặt chẽ nguồn xả thải từ hoạt động của các sơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp; giám sát, vận hành thường xuyên các trạm quan trắc môi trường tự động; rà soát, di rời cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư... tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức, ý thức, trách nhiệm và hành động của cả hệ thống chính trị, của doanh nghiệp và nhân dân trong công tác bảo vệ môi trường.

Về quốc phòng, an ninh được củng cố, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; tình hình trật tự, an ninh trên tuyến biên giới, biển đảo, an ninh chính trị, kinh tế, thông tin, tôn giáo, dân tộc cơ bản ổn định; thực hiện hiệu quả các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm trên phạm vi toàn tỉnh. Tội phạm về trật tự an toàn xã hội được kiểm soát, 6 tháng xảy ra 325 vụ phạp pháp hình sự, tăng 36 vụ so cùng kỳ; không xảy ra các vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng; tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp, số vụ, số đối tượng bị bắt giữ, xử lý tăng cao so với cùng kỳ, tăng 41,1% về số vụ, 44,7% về số đối tượng. Toàn tỉnh xảy ra 48 vụ tai nạn giao thông làm chết 35 người, bị thương 30 người; giảm 3 vụ, tăng 3 người chết, giảm 17 người bị thương so với cùng kỳ; tai nạn lao động xảy ra 14 vụ, làm chết 14 người, giảm 08 vụ, giảm 08 người chết so với cùng kỳ.

Hoạt động đối ngoại tiếp tục được triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả; thành lập các đoàn đại biểu của tỉnh thăm, làm việc và ký kết các chương trình hợp tác với một số địa phương các nước như: Chương trình “Gặp gỡ đầu xuân 2018” và Hội nghị lần 9 Ủy ban công tác liên hợp giữa 04 tỉnh Việt Nam với Khu ủy Khu tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc), hợp tác với tỉnh Irkutsk của Liên bang Nga và tỉnh Karlovy Vary của Cộng hòa Séc; đẩy mạnh công tác trao đổi đoàn, giúp đỡ và hỗ trợ 3 tỉnh Bắc Lào...

Về tổ chức kiểm điểm giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2015 - 2020), theo đó Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đề ra 14 chỉ tiêu về kinh tế - xã hội (07 chỉ tiêu về kinh tế; 04 chỉ tiêu về xã hội; 03 chỉ tiêu về môi trường). Đến nay: Có 08 chỉ tiêu đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết: (i) Thu ngân sách nhà nước; (ii) Tổng kim ngạch xuất khẩu; (iii) Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn; (iv) Số bác sỹ/1 vạn dân; (v) Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế; (vi) Tỷ lệ hộ nghèo; (vii) Tỷ lệ che phủ rừng; (viii) Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và Tỷ lệ chất thải y tế được thu gom, xử lý. Có 04 chỉ tiêu kết quả chưa cao, cần có giải pháp căn cơ để đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết: (i) Cơ cấu kinh tế; (ii) Tổng sản phẩm bình quân đầu người; (iii) Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch; (iv) Tỷ lệ lao động qua đào tạo. Có 02 chỉ tiêu chưa đạt tốc độ tăng bình quân hằng năm, cần có các giải pháp phấn đấu để đạt mục tiêu Nghị quyết: (i) Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP); (ii) Năng suất lao động xã hội.

ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND TỈNH

Công tác chỉ đạo, điều hành 6 tháng đầu năm của UBND tỉnh chủ động, linh hoạt, đổi mới trong điều hành, có trọng tâm, trọng điểm và dứt điểm, lấy hiệu quả công việc để xác định mục tiêu điều hành và hành động theo chỉ đạo của Chính phủ là: “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả”; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong thực thi điều hành công việc. Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các cơ quan của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, Cơ quan khối nội chính, tư pháp, khối MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Tăng cường đối thoại, đi sâu đi sát xuống cấp cơ sở; chủ động giải quyết và cung cấp thông tin đối với những vấn đề được xã hội quan tâm; từng bước tháo gỡ vướng mắc, khó khăn nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, minh bạch; thực hiện đầy đủ các chính sách an sinh xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định trật tự an toàn xã hội; hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế được nâng cao.

Tuy nhiên, trong điều hành của một số cơ quan, đơn vị, địa phương trên một số lĩnh vực hiệu quả chưa cao; chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đồng đều, có lúc, có nơi chưa chủ động, làm hết trách nhiệm được phân công.

Như vậy, nhìn tổng quát kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm có nhiều chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng, toàn diện trên mọi lĩnh vực, tạo tiền đề để hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra của năm 2018: (1) Kinh tế tiếp tục phát triển, tăng trưởng cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10,16%, cao nhất so với cùng kỳ 6 năm gần đây. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng khá, nhất là công nghiệp chế biến chế tạo, công nghiệp khai khoáng có nhiều khởi sắc, theo hướng phát triển bền vững. Khu vực dịch vụ sôi động, có nhiều khởi sắc, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ, khách du lịch tăng cao so cùng kỳ. Khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản duy trì ổn định. (2) Thu ngân sách nhà nước có nhiều cố gắng, tăng 17% so cùng kỳ, trong đó thu nội địa tăng 19%, chiếm tỷ trọng 75% tổng thu ngân sách; kỷ luật - kỷ cương tài chính, ngân sách được tăng cường, đảm bảo cân đối vững chắc thu, chi ngân sách. (3) Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và Chỉ số cải cách hành chính (Par Index) năm 2017 lần đầu tiên đứng thứ nhất trong 63 tỉnh, thành phố; hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI), sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) được cải thiện rõ nét. (4) Công tác giải phóng mặt bằng, tiến độ thi công dự án, công trình trọng điểm được tập trung chỉ đạo, nhất là các dự án hạ tầng giao thông, hạ tầng du lịch, các dự án tại các khu kinh tế, khu công nghiệp. (5) Lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, tổ chức thành công Lễ khai mạc và các sự kiện Năm du lịch quốc gia 2018 Hạ Long - Quảng Ninh đảm bảo vui tươi, thiết thực, an toàn. (6) Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, chủ quyền biên giới, biển đảo được giữ vững, không để xảy ra đột xuất, bất ngờ. Hoạt động đối ngoại tiếp tục được củng cố và đẩy mạnh. (7) Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, các sở, ngành, địa phương chủ động, linh hoạt, kịp thời, bám sát sự chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh bằng những chương trình, kế hoạch, giải pháp thiết thực, cụ thể.

Tuy nhiên, còn một số hạn chế: (1) Tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp nhiều khó khăn; số doanh nghiệp thành lập mới tăng thấp, chưa đạt tiến độ kế hoạch năm. Chưa có giải pháp hữu hiệu được tháo gỡ khó khăn cho hoạt động kinh tế biên mậu. (2) Tiến độ triển khai một số dự án, công trình, nhiệm vụ trong tâm còn chậm so với yêu cầu; giải ngân nguồn vốn Chương trình nông thôn mới, Đề án 196 đạt thấp. (3) Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực như đất đai, đô thị, tài nguyên, môi trường còn một số hạn chế; đặc biệt là việc khai thác than trái phép, công tác quản lý môi trường, quản lý đất rừng vẫn còn để xảy ra sai phạm; chưa tuyên truyền đầy đủ đến người dân, thôn, bản, khu phố về lợi ích được hưởng từ các cơ chế, chính sách của tỉnh... Vẫn còn biểu hiện lợi dụng các dự án về phát triển kinh tế - xã hội để khai thác trái phép tài nguyên, khoáng sản. (4) Tốc độ thu thuế, phí bình quân của một số địa phương chưa đạt dự toán giao đầu năm, ảnh hưởng đến cân đối chi thương xuyên. (5) Một số vấn đề như tai nạn đuối nước, xâm hại tình dục trẻ em; tai nạn lao động còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, diễn biến khó lường; các tệ nạn xã hội có hình thức ngày càng tinh vi. (6) Tình hình an ninh trật tự, tội phạm, tệ nạn xã hội, khiếu nại, kiến nghị đông người, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Còn để xảy ra điểm nóng về an ninh trật tự ở một số địa bàn. (7) Hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của một số cơ quan, đơn vị, địa phương trên một số lĩnh vực chưa cao. Chủ đề công tác năm và một số chủ trương lớn của tỉnh chưa được truyền tải sâu rộng và hiệu quả đến người dân, thôn, bản, khu phố.

Chuyến bay đầu tiên hạ cánh xuống sân bay Vân Đồn (1).jpg
Chuyến bay đầu tiên hạ cánh xuống sân bay Vân Đồn

NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM 6 THÁNG CUỐI NĂM 2018

Sáu tháng cuối năm 2018, mặc dù còn không ít khó khăn, thách thức, song với những diễn biến thuận lợi của tình hình kinh tế trong nước, trên địa bàn tỉnh, một số dự án, công trình động lực như đường cao tốc, sân bay, cảng biển, cơ sở hạ tầng dịch vụ sẽ hoàn thành, đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả đầu tư; một số dự án, công trình quan trọng như: Dự án đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, đường ven biển Hạ Long - Cẩm Phả; Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp Sông Khoai... được đẩy nhanh tiến độ đầu tư. Khu vực công nghiệp - xây dựng dự báo tăng trưởng cao hơn do ngành than đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường; ngành điện được bổ sung thêm công suất; ngành công nghiệp chế biến tăng cao khi các nhà máy, cơ sở sản xuất đi vào hoạt động ổn định. Khu vực dịch vụ sẽ có bước phát triển đột phá, đặc biệt là hoạt động du lịch nhờ hiệu ứng tích cực của Năm du lịch quốc gia Hạ Long - Quảng Ninh. Cải cách hành chính, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện,... sẽ tạo ra thế và lực mới, những nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Để hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm và cả năm 2018, các cấp, các ngành thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp tại Nghị quyết số 01 ngày 01/01/2018 của Chính phủ, nhất là các giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết của Tỉnh ủy, của HĐND tỉnh, trong đó tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

1. Tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển kinh tế, đảm bảo tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2018, phấn đấu đạt 10,6%, góp phần đạt mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm giai đoạn 2016 -  2020 đạt từ 11-12%/năm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV. Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 02 ngày 05/02/2016 của Tỉnh ủy và các kết luận, chương trình hành động của tỉnh về phát triển dịch vụ. Chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để tổ chức Diễn đàn Du lịch của Hiệp hội khối các quốc gia Đông Nam Á vào đầu năm 2019. Tháo gỡ khó khăn, khai thác hiệu quả hoạt động của Cầu Bắc Luân II, hệ thống các khu kinh tế cửa khẩu, hệ thống cảng biển của tỉnh. Quan tâm, tạo điều kiện để các nhà đầu tư triển khai các dự án tại Khu kinh tế Vân Đồn, các khu công nghiệp (Hải Hà, Đầm Nhà Mạc, Sông Khoai, Nam Tiền Phong, Việt Hưng, Cái Lân). Thực hiện tốt nhiệm, vụ, giải pháp Chương trình xây dựng nông thôn mới, Chương trình 135 và Đề án OCOP. Tăng cường quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo quy định của pháp luật và Nghị quyết số 13 và Chỉ thị 18 của Tỉnh ủy; kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp đánh bắt thuỷ hải sản có tính chất huỷ diệt, tận diệt.

2. Tiếp tục thực hiện hiệu quả ba đột phát chiến lược. Tập trung xây dựng thể chế, cơ chế chính sách góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội; chủ động, tích cực tham gia xây dựng dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; hoàn thiện Đề án thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn báo cáo Trung ương; hoàn thiện Đề án trình thành lập Khu kinh tế ven biển Quảng Yên, với những cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội, tạo sức cạnh tranh khu vực và quốc tế; xây dựng cơ chế, chính khu công nghệ cao Việt Hưng (giai đoạn 2). Tăng cường cải cách hành chính, trọng tâm là tiếp tục rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính gắn với ứng dụng công nghệ thông tin, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4; thực hiện đồng bộ các giải pháp thiết thực tiếp tục cải thiện, nâng cao chất lượng các chỉ số: PAR INDEX, PAPI, SIPAS, ICT. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án thành phần thuộc "Đề án thành phố thông minh” và Đề án xây dựng chính quyền điện tử giai đoạn 2.

Tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành các dự án, công trình động lực, quan trọng như: Đường cao tốc Hạ Long - Hải Phòng, Cầu Bạch Đằng, đường dẫn và nút giao cuối tuyến, Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, Cảng tàu khách quốc tế Hòn Gai, Trạm kiểm soát liên ngành Cầu Bắc Luân II,  Cung Văn hóa thanh thiếu nhi, Trung tâm Huấn luyện và thi đấu thể thao tỉnh... Khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư, GPMB để khởi công các dự án: Tuyến đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái; đường bao biển Hạ Long - Cẩm Phả; dự án xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN Sông Khoai, dự án Furama Hạ Long Resort & Villas tại xã Quan Lạn, dự án Tổ hợp du lịch nghỉ dưỡng Sonasea Dragon Bay tại xã Hạ Long, Con đường di sản Vân Đồn, Dự án xây dựng nhà máy sản xuất xe ô tô thân thiện môi trường với công suất khoảng 300.000 xe/năm tại Khu công nghiệp Việt Hưng giai đoạn 2, Trung tâm báo chí tỉnh, Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh; sớm hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư Dự án hầm đường bộ Cửa Lục để khởi công trong năm 2019. 

Tập trung phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hoàn thành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng năm 2018 đảm bảo chất lượng, hiệu quả; hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút lao động vào các KKT, KCN trên địa bàn tỉnh.

3. Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp; khuyến khích, tạo điều kiện thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp theo Nghị quyết 19 của Chính phủ; nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành, địa phương (DDCI). Quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; xây dựng, ban hành quy định một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; chính sách hỗ trợ ưu tiên đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế; chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp. Đẩy nhanh kế hoạch thoái 100% vốn nhà nước tại tại Công ty cổ phần nước sạch Quảng Ninh và sắp xếp, đổi mới công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp.

4. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành thu, chi ngân sách; siết chặt kỷ cương về tài chính - ngân sách ở tất cả các cấp, các ngành; chủ động và linh hoạt trong điều hành thu, chi ngân sách; nâng cao trách nhiệm, hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo điều hành thu chi ngân sách từ tỉnh đến cơ sở nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong công tác thu, chống thất thu ngân sách, đảm bảo cân đối thu - chi ngân sách. Phấn đấu tổng thu ngân sách nhà nước năm 2018 đạt 40.940 tỷ đồng, trong đó: Thu nội địa 30.360 tỷ đồng; thu xuất nhập khẩu 10.580 tỷ đồng. Tăng cường kiểm tra, thanh tra thuế, chống thất thu ngân sách, giảm nợ đọng thuế từ khu vực ngoài quốc doanh; rà soát các dự án đã hết thời gian ưu đãi thuế, tiền sử dụng đất. Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên để bổ sung chi đầu tư phát triển. Đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các vốn đầu tư; rà soát, kiểm tra các thủ tục gây chậm trễ trong giải ngân vốn đầu tư phát triển, vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư, chương trình nông thôn mới và Đề án 196; kịp thời đề xuất điều hòa nguồn vốn cho các nhiệm vụ cần thiết khác để phát huy hiệu quả nguồn vốn.

5. Thực hiện tốt các nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, bảo đảm kịp thời, đúng, đủ mức hỗ trợ và đối tượng hỗ trợ. Hoàn thành Đề án hỗ trợ nhà ở đối với người có công với cách mạng; hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo theo chương trình 167 giai đoạn 2. Triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục mũi nhọn. Làm tốt công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân; chủ động phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn thực phẩm; sớm triển khai đầu tư xây dựng Bệnh viện Lão khoa cùng với việc thu hút xã hội hóa đầu tư Trung tâm dưỡng lão. Triển khai tốt Nghị quyết số 10 ngày 18/12/2017 của Tỉnh ủy “về một số giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng trong tình hình mới”, Nghị quyết số 11 ngày 09/3/2018 của Tỉnh ủy về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ninh, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

6. Tiếp tục tăng cường quản lý nhà nước trên các lĩnh vực quy hoạch, đất đai, đô thị, tài nguyên, môi trường, nhất là quản lý, sử dụng đất đai tại các địa phương Vân Đồn, Móng Cái, Cô Tô, Quảng Yên. Chỉ đạo quyết liệt công tác giải phóng mặt bằng để triển khai các dự án trọng điểm: Đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, các dự án động lực tại Khu Kinh tế Vân Đồn, dự án của các Tập đoàn: Amata, Vingroup, Sungroup, FLC, Thành Công... trên địa bàn các địa phương. Quản lý chặt chẽ đối với hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến than, cát, đá, sỏi, xử lý kiên quyết các trường hợp vi phạm. Chủ động phòng, chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn; hoàn thành Đề án di dân tổng thể ra khỏi vùng sạt lở, ngập lụt nguy hiểm. Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao công nghệ, tiếp cận Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đưa Trung tâm phức hợp sản xuất giống, thức ăn, nuôi tôm siêu thâm canh và chế biến thủy sản ứng dụng công nghệ cao tại Đầm Hà đưa vào hoạt động.

7. Triển khai kế hoạch hành động thực hiện chủ đề năm 2018 “Bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường tự nhiên” và Nghị quyết 12 ngày 12/3/2018 của Tỉnh ủy về bảo vệ môi trường tỉnh giai đoạn 2018-2022. Thực hiện Đề án bảo đảm môi trường cấp bách ngành than giai đoạn 2018-2020. Chấm dứt hoạt động của Nhà máy sàng Tuyển than Nam cầu Trắng ngày 31/12/2018. Di chuyển các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường vào các cụm công nghiệp và ra ngoài trung tâm đô thị. Bảo vệ, phát triển rừng đầu nguồn, có biện pháp kiểm soát nước sạch, hợp vệ sinh. Tập trung chỉ đạo hoàn thành xây dựng, vận hành hệ thống quan trắc và cảnh báo ô nhiễm môi trường. Kiểm soát chặt chẽ quy trình xử lý nước thải, rác thải, không khí. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm về lĩnh vực môi trường.

8. Chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết để tổ chức thực hiện Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và thành lập Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt Vân Đồn sau khi được Quốc hội thông qua. Khẩn trương hoàn thành việc lập Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Vân Đồn theo hướng là đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Tăng cường quản lý nhà nước trên các lĩnh vực quy hoạch, đất đai, đô thị, tài nguyên, môi trường trên địa bàn huyện Vân Đồn. Chuẩn bị tốt công tác cán bộ để chủ động tham gia vào bộ máy của Khu. Thu hút các dự án lớn, mang tính động lực; các dự án du lịch, dịch vụ đẳng cấp; huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội để hoàn thiện kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.

9. Bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển đảo quốc gia; ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ; kiềm chế, giảm thiểu tai nạn giao thông, tai nạn lao động, phòng cháy, chữa cháy, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả. Tiếp tục thực hiện đồng bộ chương trình kiểm tra, thanh tra theo kế hoạch và thanh tra đột xuất; thực hiện nghiêm túc các kết luận sau thanh tra, kiểm toán và kế hoạch kiểm toán các dự án trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở; tập trung giải quyết dứt điểm những vụ việc phức tạp, kéo dài, đông người, không để phát sinh, hành thành điểm nóng, mất an ninh trật tự. Chủ động triển khai có hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại và các biên bản, thỏa thuận hợp tác đã ký kết.

10. Xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ cương. Thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động 21 ngày 05/02/2018 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 18, Nghị quyết số 19 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII). Chấp hành nghiêm túc quy chế làm việc, nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống, phòng, chống sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tinh thần Nghị quyết TW 4 (khóa XII). Tăng cường công tác phối hợp giữa UBND tỉnh với các cơ quan của Tỉnh ủy, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện nhiệm vụ. Chủ động cung cấp thông tin, tuyên truyền đầy đủ, chính xác, nhất là về tình hình kinh tế - xã hội, chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách, pháp luật, những vấn đề dư luận xã hội quan tâm đến nhân dân. Thực hiện nghiêm túc Quy chế phát ngôn, tăng cường tiếp xúc, đối thoại, giải trình những vấn đề dư luận xã hội quan tâm, kịp thời giải quyết các kiến nghị, đề xuất chính đáng của người dân và doanh nghiệp, tạo sự đồng thuận xã hội và phát huy sức mạnh của toàn xã hội trong việc thực hiện vượt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2018./.

.
.
.
.
.
.
.
.