Một số quy định mới về thuế GTGT, thuế TNDN theo Nghị định số 146/2017/NĐ-CP

Thứ Tư, 21/03/2018, 07:21 [GMT+7]
.
.

Ngày 15/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 146/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ.

Theo đó, Nghị định đã sửa đổi một số nội dung sau:

Thứ nhất, sửa đổi quy định về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản:

Tại Nghị định số 100/2016/NĐ-CP quy định về đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản như sau: “Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc đã chế biến thành sản phẩm khác nhưng tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản; sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên”.

Nghị định số 146/2017/NĐ-CP quy định chi tiết sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng và một số trường hợp thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng với thuế suất 0%, cụ thể như sau:

Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng: Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến trực tiếp từ nguyên liệu chính là tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên.

Sản phẩm xuất khẩu thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng với thuế suất 0% (nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng) bao gồm:

- Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh trực tiếp khai thác và chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu;

- Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh mua về chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu;

- Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ nguyên liệu chính không phải là tài nguyên, khoáng sản (tài nguyên, khoáng sản đã chế biến thành sản phẩm khác) do cơ sở kinh doanh mua về chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến thành sản phẩm xuất khẩu.

Bên cạnh đó, Nghị định số 146/2017/NĐ-CP còn hướng dẫn cụ thể cách xác định trị giá tài nguyên, khoáng sản đưa vào chế biến và chi phí năng lượng.

Thứ hai, sửa đổi quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng nhập khẩu sau đó xuất khẩu:

Tại Nghị định số 100/2016/NĐ-CP quy định như sau: “Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế đối với trường hợp hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn.”

Nghị định số 146/2017/NĐ-CP đã sửa đổi như sau:

- Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế giá trị gia tăng đối với trường hợp hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu ra nước ngoài.

- Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng đối với trường hợp hàng hóa nhập khẩu sau đó xuất khẩu mà hàng hóa xuất khẩu đó không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan; hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan.

Thứ ba, bổ sung quy định khống chế mức chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động:

Tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP, quy định doanh nghiệp không được tính vào chi phí được trừ đối với: “Phần chi vượt mức 1 triệu đồng/tháng/người để trích nộp quỹ hưu trí tự nguyện, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động; phần vượt mức quy định của pháp luật về BHXH, BHYT để trích nộp các quỹ có tính chất an sinh xã hội (BHXH, bảo hiểm hưu trí bổ sung), quỹ BHYT và quỹ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động;”

Để tránh trường hợp các doanh nghiệp khai tăng chi phí đối với khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động, Nghị định số 146/2017/NĐ-CP đã bổ sung khống chế khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động như đối với trường hợp doanh nghiệp mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động, đồng thời nâng mức khống chế chi phí đóng quỹ bảo hiểm hưu trí, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, mua bảo hiểm nhân thọ từ mức 1 triệu đồng/tháng/người lên mức 3 triệu đồng/tháng/người.

Nghị định số 146/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2018.       

Bích Diệp (Cục Thuế tỉnh)

.
.
.
.
.
.
.
.