Đáp ứng nhu cầu than cho nền kinh tế - Ngành Than cần có những giải pháp đồng bộ

Thứ Sáu, 08/09/2017, 14:14 [GMT+7]
.
.

Than là nguồn năng lượng đóng vai trò quan trọng trong chính sách Năng lượng quốc gia của Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu than cho nền kinh tế quốc dân, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 14-3-2016 về Quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030. Quá trình triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng, để làm tốt nhiệm vụ đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đòi hỏi ngành Than phải có những giải pháp đồng bộ để vượt qua khó khăn, phát triển bền vững.

Vượt qua những khó khăn

Theo Quy hoạch điều chỉnh “Quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam đến 2020, có xét triển vọng đến 2030” (phê duyệt theo Quyết định số 403/2016/QĐ-TTg ngày 14-3-2016 của Thủ tướng Chính phủ) (QH 403-2016) nhu cầu than của nền kinh tế quốc dân ngày càng tăng cao, cụ thể đến năm 2020 sẽ là 86,4 triệu tấn; năm 2025 là 121,5 triệu tấn; năm 2030 là 156,6 triệu tấn.

1
Sản xuất than tại Công ty CP than Vàng Danh. Ảnh: Phạm Cường

Trong đó nhu cầu than cho sản xuất điện năm 2020 là 64,1 triệu tấn; năm 2030 là 131,1 triệu tấn. So sánh nhu cầu và dự báo sản lượng than thương phẩm trong giai đoạn đến năm 2030 cho thấy nhu cầu sản lượng khai thác của ngành Than sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu than cho nền kinh tế (dự kiến là 47-50 triệu tấn năm 2020 và 55-57 triệu tấn năm 2030, như vậy sẽ thiếu hụt khoảng 37 triệu tấn giai đoạn 2020 và 100 triệu tấn năm 2030).

Theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Cảnh Nam, Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam, việc khai thác than ngày càng khó khăn. Nguyên do trữ lượng than có điều kiện khai thác thuận lợi đã cạn kiệt, hầu hết các mỏ than đều khai thác xuống sâu và đi xa hơn nên mức độ nguy hiểm và rủi ro ngày càng tăng; hệ số bóc đất đá và cung độ vận chuyển đối với các mỏ khai thác lộ thiên bình quân toàn ngành tăng lên 10,6m3/tấn và hơn; cung độ vận chuyển đất đá thải tăng lên trên 4km; đối với các mỏ hầm lò, ngày càng xuống sâu dưới mực nước biển, tới -450m, điều kiện khai thác khó khăn, phức tạp do áp lực mỏ lớn, phay phá, khí, nước nhiều dẫn đến suất đầu tư tăng (suất đầu tư/tấn công suất mỏ than hầm lò từ gần 50 USD/tấn đã tăng lên khoảng 150-180 USD/tấn).

Ngoài ra, chính sách thuế, phí đối với than tăng cao cũng làm cho giá thành than ngày càng tăng cao. Hiện nay, mức thuế suất thuế tài nguyên than cộng với tiền cấp quyền khai thác của nước ta vào loại cao nhất thế giới. Giá bán than bình quân thực tế của TKV năm 2015 (1,522 triệu đồng/tấn) và năm 2016 (trên 1,471 triệu đồng/tấn). Giá thành than ngày càng tăng cao, dẫn đến nguy cơ thua lỗ, trong khi nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển rất cao và chịu nhiều tác động bất lợi của thị trường.

Theo dự tính trong QH 403/2016 từ năm 2016 đến 2030 toàn ngành Than cần tổng nhu cầu vốn đầu tư là 269.006 tỷ đồng, bình quân 17.934 tỷ đồng/năm. Với tình trạng giá thành than cao hơn giá bán như đã nêu trên cho thấy ngành Than sẽ có nguy cơ thiếu vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển. Bên cạnh đó, hiện ngành Than đang phải chịu áp lực cạnh tranh gay gắt của nguồn than nhập khẩu hiện có giá thấp hơn trong nước; điều kiện khai thác của ngành Than ngày càng khó khăn, các mỏ lộ thiên dần cạn kiệt, buộc ngành Than phải chuyển sang khai thác hầm lò là chủ yếu, trong khi suất đầu tư cho khai thác hầm lò lớn hơn rất nhiều so với lộ thiên...

Phải có các giải pháp đồng bộ

Cũng theo PGS.TS. Nguyễn Cảnh Nam, để giải quyết các nút thắt trên, ngành Than cần phải có những giải pháp đồng bộ, khoa học, lâu dài. Trước mắt cần tập trung đẩy mạnh công tác thăm dò tài nguyên để chuẩn bị đủ trữ lượng khai thác theo Quy hoạch đã duyệt.

Ngành Than đang tập trung đẩy mạnh cơ giới hoá đồng bộ các lò chợ, nâng cao năng suất lao động (ảnh lò chợ cơ giới hoá đồng bộ của Công ty CP Than Hà Lầm). Ảnh: Quang Việt
Ngành Than đang tập trung đẩy mạnh cơ giới hoá đồng bộ các lò chợ, nâng cao năng suất lao động (ảnh lò chợ cơ giới hoá đồng bộ của Công ty CP Than Hà Lầm). Ảnh: Quang Việt

Về vấn đề này theo ông Nguyễn Ngọc Cơ, Phó Tổng Giám đốc TKV, ngành Than cũng đã chỉ đạo các đơn vị trong ngành tập trung thực hiện. Trong số các đơn vị khai thác mỏ hầm lò hiện nay, đa phần các mỏ đều đã được huy động tài nguyên ổn định cho nhiều năm sau. Một số mỏ đang được tiếp tục đẩy mạnh thăm dò, huy động nhằm duy trì sản xuất và phát triển trong các năm tiếp theo, đơn cử như tập trung rà soát tài nguyên tại các khu vực mỏ Mông Dương, mỏ Hà Ráng, Uông Bí...

Đồng thời đẩy nhanh tiến độ thi công xây dựng mỏ, đảm bảo công suất thiết kế và nâng cao hiệu quả đầu tư. Đặc biệt là đẩy mạnh đầu tư đổi mới, hiện đại hoá công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm tiêu hao vật tư và tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác; nâng cao trình độ cơ giới hoá, nhất là cơ giới hoá đồng bộ trong khai thác than hầm lò và công nghệ chế biến than một cách hiệu quả hơn; phấn đấu đến năm 2020 giảm tỷ lệ tổn thất than khai thác hầm lò xuống 20% và sau năm 2020 dưới 20%, tỷ lệ tổn thất than khai thác lộ thiên xuống 5% và sau năm 2020 dưới 5% như mục tiêu đã đề ra trong Quy hoạch 403/2016. Đến năm 2020, bên cạnh việc sử dụng băng tải thay thế ô tô vận chuyển ngoài mỏ, tiếp tục đổi mới đồng bộ thiết bị mỏ theo hướng tiên tiến, công suất lớn để tăng năng suất, giảm phát thải; tăng cường mọi nỗ lực để áp dụng các giải pháp hữu hiệu nhằm kiểm soát được các yếu tố rủi ro gây mất an toàn trong quá trình khai thác than như cháy nổ khí, bục nước, sập đổ lò, và các yếu tố có hại như nóng, bụi, ồn...

Bên cạnh đó là vấn đề đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật đồng bộ và lành nghề, phấn đấu đến năm 2020, năng suất lao động bình quân theo sản lượng quy đổi đạt khoảng 555 tấn than/người/năm; năm 2025 khoảng 640 tấn than/người/năm; năm 2030 khoảng 740 tấn than/người/năm...

Hy vọng với những giải pháp đồng bộ, ngành Than sẽ thực hiện được mục tiêu xây dựng ngành Than Việt Nam trở thành ngành công nghiệp phát triển, có sức cạnh tranh cao, có trình độ công nghệ tiên tiến so với khu vực, đáp ứng đủ than cho nền kinh tế.

Đặng Nhung

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.