Chuyện quản lý

Đừng để đời cha ăn mặn, đời con chết khát

Thứ Sáu, 25/08/2017, 17:10 [GMT+7]
.
.

Những năm gần đây, không chỉ Quảng Ninh mà các địa phương ven biển đang nóng lên tình trạng khai thác thuỷ sản kiểu tận diệt.

Theo phản ánh của báo chí, thống kê trong hai năm 2015-2016, các tàu kiểm ngư của tỉnh Nghệ An đã phát hiện 746 tàu vi phạm khi đánh bắt trên biển, xử phạt gần 1 tỷ đồng, thu số lượng lớn xung điện, lồng bát quái, mìn, dây cháy chậm.

Nguồn lợi thuỷ sản vùng ven bờ của tỉnh Thanh Hoá cũng ngày càng cạn do ngư dân đánh bắt kiểu huỷ diệt như trên. Các lực lượng chức năng của tỉnh Thanh Hoá đã kiểm tra, phát hiện nhiều trường hợp tàu cá đánh bắt sai luồng tuyến, dùng kích điện, xung điện để đánh bắt. Rồi tại tỉnh Khánh Hoà, tình trạng ngư dân khai thác bằng phương tiện trái phép đang nóng dần ở vịnh Cam Ranh, đầm Nha Phu, vịnh Vân Phong...

Dụng cụ khai thác thủy hải sản bị cấm do tính chất tận diệt.
Dụng cụ khai thác thủy hải sản bị cấm do tính chất tận diệt.

Những thông tin cho thấy, nguồn lợi thuỷ sản gần bờ đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt. Và một khi nguồn lợi ven bờ không còn thì chưa nói đến những tác hại sâu xa về môi trường biển, những người dân nghèo kiếm ăn ven biển sẽ hứng chịu đầu tiên.

Một người dân làm nghề chài lưới ở Hà An (Quảng Yên) nói với tôi: Cách đây hơn chục năm, dân nghèo sống ven biển Hà An, Tân An chỉ cần con thuyền nhỏ với ít lưới giăng đã có thể đánh bắt được vài chục cân tôm, cua, bề bề mang lên chợ bán. Bây giờ vật lộn cả ngày, chưa chắc đã kiếm nổi vài cân. Thuyền to thì không có khả năng đóng, dân nghèo chúng tôi chỉ kiếm ăn ven bờ, nhưng gần đây việc khai thác, đánh bắt rất khó vì cá tôm ngày càng khan hiếm. Không chỉ cá tôm mà các loài thuỷ sản khác đang dần cạn kiệt.

Theo báo cáo của cơ quan chức năng, nhiều loại thuỷ sản quý hiếm số lượng bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí biến mất như: Bào ngư bảy lỗ ở Cô Tô; tôm he Mĩ Miều (Hải Hà); tôm hùm Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long; hải sâm, tôm mũ ni đỏ, sá sùng ở Vân Đồn, Móng Cái... Nguyên nhân gây nên tình trạng trên phần lớn là do các hoạt động khai thác theo kiểu tận diệt, huỷ diệt gây ra.

Một lão ngư ở Vân Đồn kể, ngày xưa tuy nghèo nhưng ngư dân biết giữ gìn, bảo vệ biển chứ không tham lam như bây giờ. Kéo mẻ lưới lên chỉ thu hoạch những con lớn, con bé, con đang đẻ trứng đều trả lại biển. Đặc biệt vào mùa sinh sản, ngư dân hạn chế đánh bắt vùng gần bờ, bởi mùa sinh sản nhiều loài thuỷ sản vào ven bờ để đẻ. Bây giờ người ta khai thác theo kiểu tàn sát biển, bất kể vào mùa sinh sản, cá bé hay đang độ sinh sản đều tận thu hết. Với kiểu đánh bắt tận diệt như thế này thì đời sau con cháu còn gì để sinh nhai.

Tận mắt chứng kiến những dụng cụ mà con người dùng để huỷ diệt biển, chúng tôi không khỏi rùng mình: Nào là kích điện, mìn, lồng bát quái, giã cào, lưới rê... đủ loại hình, cách thức “tra tấn” sinh vật biển, miễn thu về được lợi nhuận cao nhất... Theo tính toán của giới chuyên môn, chỉ 1 thỏi chất nổ 200g, khi sử dụng sẽ làm ảnh hưởng đến vùng biển có bán kính 150-250m, sâu 25-40m, làm chết tất cả các loài tôm, cá, thuỷ sinh, cá con, trứng cá và sinh vật phù du lớn, bé có trong vùng bị ảnh hưởng.

Và cái hại trước mắt đã nhìn thấy rất rõ, nguồn lợi thuỷ sản ven bờ đang dần cạn kiệt, hệ sinh thái biển ngày càng suy giảm vì ô nhiễm, vì thuốc nổ và những người dân nghèo ngày càng nghèo hơn khi sinh kế ngày càng cực nhọc.

Nhiệm vụ bảo vệ biển không còn là việc của riêng ai mà cần sự vào cuộc của cả cộng đồng, của các cấp chính quyền, ngành. Và cần phải vào cuộc một cách mạnh mẽ, bằng quản lý, kiểm soát và cả xử phạt một cách cương quyết, nghiêm minh. Song song với đó, cần phải có chương trình, kế hoạch cụ thể lâu dài, khả thi cho việc chuyển đổi, sắp xếp bố trí việc làm cho ngư dân ven bờ. Đặc biệt là vấn đề nâng cao nhận thức cho người dân về tác hại của việc khai thác tràn lan, khai thác theo kiểu tận diệt thuỷ sản.

Đặng Nhung

.
.
.
.
.
.
.
.