Nâng cao tính ứng dụng của các đề tài nghiên cứu khoa học: Nhìn từ thực tiễn

Thứ Sáu, 14/07/2017, 06:04 [GMT+7]
.
.

Theo thống kê, giai đoạn 2011-2015, toàn tỉnh triển khai 206 nhiệm vụ KH&CN ở tất cả các lĩnh vực, tổng kinh phí 615 tỷ đồng. Trong đó, có gần 70% số đề tài, nhiệm vụ KH&CN được áp dụng, nhân rộng trong thực tế. Làm thế nào để nâng cao hiệu quả, tính ứng dụng kết quả của các đề tài, dự án KH&CN vẫn luôn là câu hỏi cần sớm tìm ra lời giải.

Nghị quyết 04-NQ/TU (ngày 5-5-2012) của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020 đã thổi “luồng gió mới” vào hoạt động KH&CN trên địa bàn tỉnh, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào nghiên cứu, ứng dụng các nhiệm vụ KH&CN. Nhiều nhiệm vụ KH&CN được xây dựng, nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tế, bám sát sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đơn vị, doanh nghiệp. Tuy nhiên, lĩnh vực nghiên cứu KH&CN có sự mất cân bằng, chất lượng không đồng đều, một số đề tài còn thiếu thực tế, tính ứng dụng còn chậm...

NGHIÊNG MẠNH VỀ NÔNG NGHIỆP

Trong giai đoạn 2011-2015, toàn tỉnh đã thực hiện 206 nhiệm vụ KH&CN, trong đó có tới 118 nhiệm vụ thuộc lĩnh vực nông nghiệp. Điểm mạnh của các nhiệm vụ này là gắn trực tiếp với chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM); phát huy được những tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Nhất là trong chương trình OCOP, các cấp, ngành, doanh nghiệp và người dân đã phối hợp thực hiện nhiều nhiệm vụ KH&CN nhằm giải quyết điểm nghẽn trong quy trình sản xuất, thu hút các hộ dân tham gia, đào tạo nhân lực KH&CN trực tiếp phục vụ sản xuất. Từ năm 2013 đến nay, từ một số ít sản phẩm truyền thống, Quảng Ninh đã phát triển lên 210 sản phẩm hàng hoá; phát triển 180 tổ chức sản xuất; doanh số bán hàng hơn 670 tỷ đồng (Đề án đề ra 200 tỷ đồng) nhờ gia tăng về quy mô sản xuất và giá bán, trị giá các sản phẩm bình quân tăng 20%. Đây là hướng đi đúng góp phần tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, nâng cao giá trị sản xuất và là thương hiệu riêng của tỉnh, là một nội dung quan trọng trong xây dựng NTM, được Chính phủ khuyến khích nhân rộng ra toàn quốc.

Nhiệm vụ nghiên cứu phương pháp enzyme vào cải tiến quy trình sản xuất nước mắm, do thiếu kinh phí, nên Công ty CP Thuỷ sản Cái Rồng (huyện Vân Đồn) đã không duy trì.
Nhiệm vụ nghiên cứu phương pháp enzyme vào cải tiến quy trình sản xuất nước mắm, do thiếu kinh phí, nên Công ty CP Thuỷ sản Cái Rồng (huyện Vân Đồn) đã không duy trì.

Nếu như các nhiệm vụ trong lĩnh vực nông nghiệp có số lượng lớn thì các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực kỹ thuật và công nghiệp; khoa học xã hội và nhân văn; y và dược còn rất ít, chưa khuyến khích, phát huy cao độ các sáng kiến, ý tưởng áp dụng, ứng dụng KH&CN của đội ngũ cán bộ KH&CN. Trong lĩnh vực y và dược chỉ có 15 nhiệm vụ, chiếm 7,3%; kỹ thuật và công nghệ có 24 nhiệm vụ, chiếm 11,7%; khoa học xã hội và nhân văn có 22 nhiệm vụ, chiếm 10,7%... Một trong những ngành kinh tế chính của Quảng Ninh là công nghiệp thì các đề tài mới tập trung ở ngành Than; còn đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến... thì hầu như vắng bóng. Các nhiệm vụ về bảo vệ môi trường cũng khá ít ỏi, trong 5 năm chỉ có 1 dự án xây dựng Trạm quan trắc môi trường tự động do Sở TN&MT làm chủ đầu tư. Ở ngành Du lịch chỉ có duy nhất dự án “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại Quảng Ninh” do Trường Đại học Hạ Long thực hiện.

KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG HẠN CHẾ

Như đã nói ở trên, lĩnh vực nông nghiệp có số lượng nhiệm vụ lớn với 118 nhiệm vụ, gấp 1,5 lần so với giai đoạn 2006-2010 (79 nhiệm vụ), với kinh phí thực hiện gần 200 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương trên 28 tỷ đồng, ngân sách tỉnh trên 77 tỷ đồng, còn lại là nguồn huy động từ doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, 47,8% nhiệm vụ trong lĩnh vực nông nghiệp kết thúc chưa được nhân rộng. Lý do: Việc nhân rộng liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp, người dân, nhưng một số doanh nghiệp, người dân không muốn thay đổi tập quán canh tác, không muốn mạo hiểm đầu tư khi hiệu quả của nhiệm vụ chưa được khẳng định rõ trong quá trình thực hiện. Đặc biệt là tình trạng hết kinh phí đầu tư thì doanh nghiệp và người dân lại quay trở lại phương thức canh tác cũ. Đồng thời, một số nhiệm vụ trong quá trình nghiên cứu thử nghiệm nuôi giống mới chưa khẳng định tính thích nghi với điều kiện tự nhiên, hoặc gặp khó khi thương mại hoá nên không được nhân rộng.

Ở lĩnh vực khác, một số nhiệm vụ không điển hình, không đi sâu hoặc bám sát vào nhu cầu thực tế dẫn đến việc “nghiệm thu xong để đó”, “ngủ quên” trong ngăn kéo, như: Nghiên cứu ứng dụng CNTT trong đào tạo từ xa qua mạng internet; nghiên cứu ứng dụng mô hình kiến trúc xanh thích ứng biến đổi khí hậu trong đô thị TP Hạ Long; nghiên cứu ứng dụng công nghệ LIDAR để quan trắc môi trường bụi không khí; nghiên cứu và ứng dụng phương pháp enzyme vào cải tiến quy trình sản xuất nước mắm... Bên cạnh đó, việc ứng dụng các nhiệm vụ KH&CN vào đời sống, sản xuất còn gặp những khó khăn, hạn chế, như: Đầu tư cho phát triển KH&CN, đặc biệt là trong nghiên cứu, triển khai còn thiếu và không đồng bộ. Kinh phí sự nghiệp khoa học không đủ đáp ứng cho việc triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế. Công tác xã hội hoá hoạt động nghiên cứu, ứng dụng các nhiệm vụ, nhất là việc huy động nguồn kinh phí dành riêng chi cho hoạt động KH&CN trong các doanh nghiệp chưa được chú trọng đúng mức. Mối liên kết giữa nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp và người dân chưa thật sự chặt chẽ; vẫn còn những nhiệm vụ nghiên cứu có quy mô nhỏ lẻ, phân tán, tính phổ biến ứng dụng hạn chế, thiếu tính liên kết vùng, khu vực.

Cùng với đó, đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN cấp huyện thiếu. Dù các huyện, thị xã, thành phố có bố trí cán bộ nhưng chỉ làm công tác kiêm nhiệm, do đó không thể phát huy hết vai trò đối với việc ứng dụng KH&CN cho nhân dân địa phương. Một số sở, ban, ngành khi nhận chuyển giao kết quả nghiên cứu của đề tài (báo cáo, kiến nghị, các giải pháp, quy trình công nghệ...) chưa quan tâm, chưa chủ động trong việc xây dựng kế hoạch ứng dụng vào thực tiễn. Công tác truyền thông chưa đủ sâu rộng để khuyến khích, động viên các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động KH&CN.

Đồng hành với sự phát triển của tỉnh, hoạt động KH&CN cũng ngày càng phải khẳng định được tính ứng dụng vào thực tiễn của đời sống xã hội. Như vậy, phải làm sao để giai đoạn tới, những nhiệm vụ KH&CN không chỉ phát triển về số lượng mà chất lượng phải nâng cao hơn nữa, ứng dụng nhanh vào thực tế, góp phần xây dựng tỉnh trở thành tỉnh dịch vụ - công nghiệp.

Nguyễn Hoa
Bài 2: Lấy doanh nghiệp là trung tâm

.
.
.
.
.
.
.
.