Giảm nghèo ở Ba Chẽ: Khích lệ tính tự lực của người dân

Thứ Hai, 20/03/2017, 15:02 [GMT+7]
.
.

Năm 2016, Ba Chẽ đã đặt ra kế hoạch giảm 400 hộ nghèo và đã có 424 hộ được xoá nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện từ 34,7% xuống còn 25,91%. Năm nay, huyện Ba Chẽ có kế hoạch giảm 350/1.350 hộ nghèo, trong đó hơn 92% số hộ nghèo tập trung tại các xã đặc biệt khó khăn của huyện là Nam Sơn, Đồn Đạc, Thanh Sơn, Thanh Lâm, Đạp Thanh. Huyện đã triển khai Đề án nhiệm vụ, giải pháp đưa các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn hoàn thành chương trình 135 giai đoạn 2017-2020. Để thực hiện đề án này, tổng kinh phí khái toán đầu tư của huyện là 224,2 tỷ đồng và vốn cho năm 2017 là 55,7 tỷ đồng, trong đó tổng vốn tỉnh dự kiến giao là 39,335 tỷ đồng.

Anh Nịnh Văn Trắng, xã Đạp Thanh hiện là người duy nhất đứng ra bao tiêu sản phẩm trà hoa vàng cho bà con của huyện Ba Chẽ.
Anh Nịnh Văn Trắng, xã Đạp Thanh hiện là người duy nhất đứng ra bao tiêu sản phẩm trà hoa vàng cho bà con của huyện Ba Chẽ.

Công việc xoá nghèo ngày càng khó khăn hơn, vì thường là các hộ có sức khoẻ, có chí hướng thoát nghèo thì đã được xoá nghèo từ những năm trước. Những hộ nghèo còn lại đa phần đều khó xoá nghèo với nhiều lý do như: Bệnh tật, ốm đau, người già cô đơn, trình độ dân trí thấp, nhiều người không biết chữ. Vì vậy, những năm gần đây, Phòng GD-ĐT huyện Ba Chẽ liên tục mở các lớp xoá mù chữ cho học viên ở các xã trên địa bàn, chỉ riêng năm 2016, đã có 14 lớp xoá mù được tổ chức ở tất cả các xã trên địa bàn huyện với 300 học viên tham gia. Qua đó, công tác xoá nghèo đã có phần thuận lợi hơn, từ chỗ khi các mô hình phát triển kinh tế được đưa vào xã, hộ nghèo được mời đến các lớp tập huấn nhưng lại không biết ghi chép thế nào vì không biết chữ, thì nay việc này đã tạm ổn.

Tuy nhiên, điều đặt ra hiện nay, người nghèo đã nắm được kỹ thuật và sản xuất ra hàng hoá nhưng lại không biết tiêu thụ thế nào. Ba Chẽ hiện rất nổi tiếng với cây trà hoa vàng và đã xây dựng quy hoạch trồng 500ha, hiện đã trồng được hơn 100ha rải rác ở các xã từ nguồn của doanh nghiệp và các hộ dân trên địa bàn. Tuy nhiên, hiện nay trên thực tế thị trường tiêu thụ vẫn là phía Trung Quốc và giá bán trà hoa vàng vẫn chủ yếu do thương lái Trung Quốc quyết định. Tại buổi gặp mặt lãnh đạo tỉnh với các xã, thị trấn ở Ba Chẽ, để bàn triển khai Đề án nhiệm vụ và giải pháp đưa các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, hoàn thành chương trình 135 giai đoạn 2017-2020, diễn ra vào cuối tháng 2 vừa qua, anh Triệu Duy Nghĩa, Bí thư thôn Đồng Rằm, xã Đạp Thanh, cho hay: “Hiện trên địa bàn huyện mới chỉ có anh Nịnh Văn Trắng, Giám đốc Công ty CP Kinh doanh lâm sản Đạp Thanh (xã Đạp Thanh) là đứng ra thu mua trà hoa vàng cho bà con. Thế nhưng, anh Trắng cũng phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc nên giá thu mua trà hoa vàng thất thường, có thời điểm người trồng bán được 1,2 triệu đồng/kg, thế nhưng hiện nay chỉ bán được trên dưới 500.000 đồng/kg khiến người trồng chán nản”.

Như vậy, khi diện tích trà hoa vàng của Ba Chẽ được mở rộng thì cũng đồng nghĩa với việc huyện cần phát triển các mô hình HTX thu mua sản phẩm trà hoa vàng, mở rộng hơn thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Trong năm qua, nhiều hộ nghèo được hỗ trợ nuôi lợn từ nhiều nguồn khác nhau, một mô hình khác được thực hiện từ mấy năm trước là hỗ trợ người nghèo máy cắt cỏ rất hiệu quả, nhưng theo ông Lãnh Thế Vinh, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh thì không nên vì thế mà tiếp tục triển khai quá rộng, vì lợn nuôi nhiều quá sẽ tiêu thụ thế nào, máy cắt cỏ chỉ là công việc ban đầu của nhà nông, trong khi phần tiếp theo là làm ra sản phẩm và bán sản phẩm đó như thế nào. Việc hỗ trợ hộ nghèo trên cơ sở nguyện vọng họ cần gì, nhưng cũng phải có định hướng”.

Việc nâng cao nhận thức của hộ nghèo để họ làm chủ trong phát triển kinh tế đã rất thành công ở xã Lương Mông. Theo lãnh đạo xã thì việc xoá nghèo ở Lương Mông chủ yếu do ý thức của người dân. Trước đây, trong các buổi họp bình bầu hộ nghèo cuối năm, đa phần người dân giơ tay nhận mình là hộ nghèo, thì nay nhiều buổi họp như vậy chẳng thấy cánh tay nào giơ lên”. Việc xoá nghèo ở xã có cả cộng đồng cùng vào cuộc, buộc các hộ có khả năng thoát nghèo nhưng chây ỳ đã tự xem lại mình và tự thấy ngại khi thua kém người khác.

Thêm nữa, Lương Mông lại có thuận lợi là trung tâm giao lưu hàng hoá với một số xã lân cận trong và ngoài huyện, nên các phiên chợ có rất đông người từ tỉnh ngoài đến, tạo sự thông thương trao đổi hàng hoá khá hiệu quả. Người dân các xã bạn đến Lương Mông bán các hàng may mặc, dụng cụ làm rừng, làm ruộng nhưng lại mua về các đặc sản của Lương Mông như quế, keo, thanh long ruột đỏ, cam Canh, cam V2 từ các mô hình phát triển kinh tế của xã. Như vậy, từ việc người dân được tiếp xúc với thị trường, họ trở nên nhanh nhạy hơn, chủ động được việc sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm của mình.

Anh Vũ

.
.
.
.
.
.
.
.