Gặp gỡ trong tuần

Phát huy truyền thống "Kỷ luật và đồng tâm" để xây dựng ngành Than thành ngành kinh tế gương mẫu, Quảng Ninh thành tỉnh giàu đẹp

Chủ Nhật, 13/11/2016, 16:14 [GMT+7]
.
.
Ông Mai Hữu Phần nay đã 84 tuổi.
Ông Mai Hữu Phần nay đã 84 tuổi.

Ông Mai Hữu Phần ra Vùng mỏ làm “nhau than” kiếm sống từ lúc còn nhỏ. Vùng mỏ được giải phóng, ông làm công nhân, được đi học, sau này làm cán bộ công đoàn ở mỏ Đèo Nai. Ông vinh dự được đón Bác Hồ đến thăm công trường than Đèo Nai vào ngày 30-3-1959. Gia đình 3 thế hệ làm thợ mỏ của ông luôn học và làm theo lời Bác Hồ dạy, phát huy truyền thống “kỷ luật và đồng tâm”, góp phần “xây dựng ngành Than thành ngành kinh tế gương mẫu, Quảng Ninh thành tỉnh giàu đẹp” như lúc sinh thời Bác Hồ từng mong muốn.

Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống công nhân Vùng mỏ - Truyền thống ngành Than 12-11 (1936-2016), PV Báo QNCT trò chuyện cùng ông Mai Hữu Phần (84 tuổi), ở khu Nam Tiến, phường Cẩm Bình, TP Cẩm Phả.

- Trước tiên xin chúc mừng ông cùng gia đình và những người thợ mỏ nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống công nhân Vùng mỏ - Truyền thống ngành Than. Được biết, có một điều thú vị là ngày sinh của ông trùng với ngày truyền thống của ngành, ông có thể chia sẻ về điều này?

+ Tôi nhớ hồi đấy là năm 1951. Từ vùng quê Ý Yên (Nam Định), do gia đình nghèo khó nên tuy còn nhỏ nhưng tôi đã phải theo người ta ra Vùng mỏ Cẩm Phả làm “nhau than” để kiếm sống qua ngày. Cuộc sống thợ mỏ thời Pháp thuộc khó khăn, vất vả và tủi nhục như thế nào, ai cũng đều đã biết. Do chẳng nhớ ngày sinh tháng đẻ của mình nên sau này tôi lấy Ngày Truyền thống công nhân Vùng mỏ - Truyền thống ngành Than 12-11 (trước kia gọi là Ngày miền mỏ bất khuất) làm ngày sinh. Thế nên cứ đến dịp này, năm nào tôi cũng được tổ chức sinh nhật và đến 12-11 này là sinh nhật lần thứ 84 của tôi đấy (cười).

- Vậy tiếp sau đó thì sao ạ?

+ Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công nhân Vùng mỏ đã không ngừng đấu tranh và sau Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”, năm 1955 Vùng mỏ được giải phóng. Cũng như nhiều người dân và thợ mỏ, tôi vui mừng khôn xiết vì từ nay mình không còn chịu thân phận nô lệ lầm than nữa. Tôi được biên chế vào làm công nhân ở Công trường khai thác than Đèo Nai thuộc Xí nghiệp Than Cẩm Phả. Sau khi thực dân Pháp rút đi, tuy đời sống và sản xuất còn nhiều khó khăn nhưng chúng tôi thật vui và luôn hăng say lao động. Sản xuất nhanh chóng được phục hồi và Công trường khai thác than Đèo Nai liên tục lập nên những kỳ tích, chiến công mới, được Bác Hồ về thăm, động viên và dạy bảo ân cần.

Ông Mai Hữu Phần (ngoài cùng bên phải) đang bế con gái út, cùng mẹ đẻ (thứ hai trái sang), vợ (ngoài cùng bên trái) và các con.  Ảnh do gia đình cung cấp, chụp năm 1969
Ông Mai Hữu Phần (ngoài cùng bên phải) đang bế con gái út, cùng mẹ đẻ (thứ hai trái sang), vợ (ngoài cùng bên trái) và các con. Ảnh do gia đình cung cấp, chụp năm 1969

 - Và ông vinh dự là một trong những người được đón Bác Hồ về thăm Đèo Nai năm đó?

+ Hồi ấy, tôi mới 23 tuổi, là công nhân chạy trục kéo xe goòng. Vừa tan ca thì thấy quản đốc công trường bảo anh em nán đợi để đón khách. Nói thật là không ai ngờ khách lại là Bác Hồ cả! Một lúc sau, nhìn ra đường thì thấy có chiếc xe com măng ca, nhưng xe không lao thẳng đến chỗ chúng tôi đang đứng, mà dừng lại cách đó khoảng hơn trăm mét. Trong số những người từ trên xe bước xuống, tôi ngạc nhiên thấy có một “ông già”, mặc bộ quần áo nâu, đầu đội mũ cát rộng vành, vai vắt chiếc khăn bông, dáng người cao, gầy mảnh mai... Chúng tôi ngỡ ngàng vì không tin được Bác lại lên tận cái nơi đèo heo hút gió này. Mãi đến khi Bác tới nơi, chúng tôi vẫn cứ “đứng đực” ra. Bác bước tới, dáng nhanh nhẹn, tươi cười bảo anh em chúng tôi quây quần lại gần Người...

- Chắc hẳn đến giờ ông vẫn nhớ những lời Bác Hồ dặn thợ mỏ trên công trường than Đèo Nai năm đó?
+ Quên làm sao được. Sau khi nắm tình hình sản xuất và đời sống thợ mỏ, Bác khen công nhân mỏ đã cố gắng trong sản xuất, bảo vệ tốt máy móc. Nhưng Bác cũng thẳng thắn phê bình những khuyết điểm là: Chất lượng than còn kém, than cục chưa đảm bảo tỷ lệ quy định; bảo hộ lao động cũng kém; còn một số cán bộ quan liêu mệnh lệnh.

Bác bảo: “Trước đây bốn, năm năm, khu mỏ này của thực dân Pháp, công nhân còn là nô lệ bị bóc lột và đàn áp khổ cực. Ngày nay, khu mỏ là của nhân dân nói chung và của công nhân nói riêng. Công nhân là giai cấp lãnh đạo, là chủ khu mỏ thì phải làm sao cho xứng đáng; để xe máy hỏng, lười biếng, lãng phí đều không xứng đáng vai trò làm chủ. Muốn làm những người chủ xứng đáng thì phải thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Bây giờ chúng ta làm cho mình, cho nhân dân và cho con cháu chúng ta nữa”.

Mà thực ra thì những điều này ai cũng biết cả rồi vì sử sách ghi đầy đủ, chính xác lắm. Cái làm cho tôi cũng như các anh em thợ mỏ khác có mặt hôm ấy xúc động là sự gần gũi của Người. Từ ánh mắt, nụ cười, giọng nói v.v.. của Người toát lên sự ấm cúng, khiến cho bất cứ ai cũng có cảm giác tự tin, hoạt bát hẳn lên...

Ông Mai Hữu Phần (giữa) và các cán bộ làm công tác văn hoá của tỉnh, của ngành Than khảo sát, xác định địa điểm năm xưa Bác Hồ về thăm mỏ than Đèo Nai. Ảnh: Phạm Học
Ông Mai Hữu Phần (giữa) và các cán bộ làm công tác văn hoá của tỉnh, của ngành Than khảo sát, xác định địa điểm năm xưa Bác Hồ về thăm mỏ than Đèo Nai. Ảnh: Phạm Học

- Những lời Bác dặn có ý nghĩa đối với ông như thế nào?

+ Dẫu chỉ được gặp Bác Hồ trong khoảng chưa đến một tiếng đồng hồ nhưng quãng thời gian ngắn ngủi ấy vô cùng có ý nghĩa đối với cuộc đời tôi, một thợ mỏ cả cuộc đời gắn bó với Đèo Nai. Tôi quyết định đi học để trở thành một cán bộ công đoàn chuyên trách và gắn bó với công việc này suốt mấy chục năm tại Mỏ Đèo Nai. Thực hiện lời dạy của Bác, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn đến đâu tôi cũng làm theo lời Bác dạy và giáo dục con cháu là phải ra sức thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, đặt lợi ích chung lên trên, không vụ lợi hay lãng phí. Ngay cả khi phải đối mặt với những mất mát, hy sinh tưởng như quá sức chịu đựng là vợ và cô con gái út bị bom Mỹ sát hại năm 1972, tôi vẫn đứng vững được là nhờ có một sức mạnh “huyền bí” nào đấy truyền cho từ sau lần gặp Bác năm ấy!

- Nhiều người gọi gia đình ông là gia đình thợ mỏ vì các con và các cháu ông nhiều người cũng theo nghiệp thợ mỏ. Ông có thể chia sẻ về điều này?

+ Vợ chồng tôi sinh được 5 người con, không may mắn là bà nhà tôi cùng cô con gái út bị bom Mỹ sát hại. Cô con gái cả là giáo viên, lấy chồng là lái xe ngành Than, nay cả 2 vợ chồng đã nghỉ hưu. Anh con trai thứ hai giờ làm Thường trực Hội đồng quản trị kiêm Trưởng Ban Tuyên giáo Đảng uỷ Công ty CP Than Đèo Nai. Anh con trai thứ ba từng làm Giám đốc Công ty CP Công nghiệp ô tô - Vinacomin, nay chuyển công tác về làm ở cơ quan Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Anh con trai thứ tư làm lái xe ở Công ty CP Than Đèo Nai. Thế hệ thợ mỏ thứ ba trong gia đình tôi cũng có tới 3 cháu. Rất mừng là các con, các cháu của tôi đều phát huy tốt truyền thống của gia đình, truyền thống của thợ mỏ Quảng Ninh.

- Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống công nhân Vùng mỏ - Truyền thống ngành Than, ông có mong muốn gì và muốn nhắn nhủ điều gì với thế hệ thợ mỏ hôm nay, mai sau?

+ 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, lớp lớp các thế hệ thợ mỏ Quảng Ninh đã khắc phục khó khăn, vượt qua nhiều chông gai thử thách, hình thành và phát huy tốt truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm”. Không chỉ sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc, thợ mỏ Quảng Ninh còn xung kích tham gia đánh thắng giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc và giai cấp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tôi mong muốn các thế hệ thợ mỏ hôm nay và mai sau luôn khắc ghi và thực hiện tốt những lời dạy của Bác Hồ, tiếp tục phát huy truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” để xây dựng ngành Than thành ngành kinh tế gương mẫu, Quảng Ninh thành tỉnh giầu đẹp như lúc sinh thời Bác Hồ hằng mong ước.

Tôi cũng rất mừng là ngày 28-10 vừa qua, địa điểm lưu niệm Bác Hồ về thăm mỏ than Đèo Nai đã được Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL ra quyết định xếp hạng, công nhận là Di tích lịch sử quốc gia. Tôi mong đây sẽ là địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống thợ mỏ cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Ngọc Hà (thực hiện)

.
.
.
.
.
.
.
.