Để những cánh rừng thêm xanh

Thứ Ba, 15/11/2016, 14:10 [GMT+7]
.
.

Nhận thức rõ giá trị của các cánh rừng đối với môi trường sinh thái và phát triển kinh tế - xã hội, do đó, vấn đề quản lý và bảo vệ rừng bền vững luôn là mục tiêu lớn mà ngành lâm nghiệp Quảng Ninh hướng đến.

Theo công bố hiện trạng rừng mới nhất, độ che phủ rừng của toàn quốc đạt gần 41%, trong khi đó, Quảng Ninh đã tăng tỷ lệ che phủ rừng từ 43% (năm 2005) lên 54% (năm 2016). Đây là minh chứng rõ nét cho thấy, những nỗ lực và giải pháp của ngành kiểm lâm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng được nâng cao.

Cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập kiểm tra hiện trạng rừng tại xã Quảng La, huyện Hoành Bồ.  Ảnh: BQL rừng phòng hộ Hồ Yên Lập
Cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập kiểm tra hiện trạng rừng tại xã Quảng La, huyện Hoành Bồ. Ảnh: BQL rừng phòng hộ Hồ Yên Lập

CHUYỂN BIẾN LỚN Ở DOANH NGHIỆP

Theo Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, ngày 3-3-2006 của Chính phủ, về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tất cả các cá nhân, tổ chức khi sử dụng diện tích rừng sang mục đích khác đều phải trồng rừng thay thế (trồng rừng trực tiếp hoặc nộp tiền) ít nhất bằng diện tích rừng đã sử dụng. Tuy nhiên, do các đơn vị chức năng của tỉnh trong quá trình thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư có sử dụng đất lâm nghiệp đã không thực sự chú ý đến những quy định liên quan đến trồng rừng thay thế. Bên cạnh đó, mặc dù Nghị định ra đời từ năm 2006, nhưng lại không có hướng dẫn cụ thể, chi tiết cho tới khi có Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 24-1-2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác. Chính vì thế nên quy định trên đã bị nhiều doanh nghiệp cố tình “lờ” đi nghĩa vụ của mình.

Thống kê từ năm 2006 đến hết năm 2015, trên địa bàn tỉnh có 71 tổ chức, đơn vị thực hiện các dự án với gần 935ha diện tích rừng chuyển đổi mục đích sử dụng phải thực hiện trồng rừng thay thế. Thế nhưng chỉ có gần 62ha diện tích đã được các chủ rừng trồng thay thế và 435ha chủ rừng nộp tiền về Quỹ Bảo vệ phát triển rừng. Con số trên cho thấy, còn tới 50% diện tích trồng rừng thay thế đã bị các chủ rừng “bỏ trống” suốt gần 10 năm qua.

Để các doanh nghiệp nâng cao ý thức, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước, ngay sau khi có Chỉ thị số 02/CT-TTg, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tham mưu Sở NN&PTNT đề xuất UBND tỉnh ra quyết định thành lập Đoàn kiểm tra xử lý vi phạm đối với các dự án có chuyển đổi rừng để đầu tư phát triển nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, để đánh giá lại toàn bộ việc thực hiện các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục chuyển mục đích rừng, đất lâm nghiệp sang mục đích khác đối với từng nhóm chủ rừng không hề đơn giản. Với khối lượng các dự án nhiều, phải lật lại giấy tờ, hồ sơ từ những năm 2006 nên việc rà soát mất vài tháng trời, còn riêng công tác đi kiểm tra thực tế và làm việc với các chủ rừng tại 14 địa phương lên tới 8 tháng. Trong quá trình làm việc, không ít doanh nghiệp có phản ứng gay gắt vì cho rằng, họ đã thực hiện xong công tác hoàn nguyên môi trường và không đồng ý việc phải tiếp tục trồng rừng thay thế hoặc nộp tiền. Để các doanh nghiệp hiểu và đồng thuận, Đoàn kiểm tra vừa hướng dẫn cụ thể các quy định của Nhà nước, vừa phân tích hiệu quả, lợi ích từ trồng rừng thay thế cho các chủ rừng.

Với cách làm sát sao và cụ thể trên, chỉ sau 2 tháng kết thúc đợt kiểm tra, tính đến hết tháng 9-2016, số tiền các doanh nghiệp nộp về Quỹ Bảo vệ phát triển rừng đạt 10,2 tỷ đồng (tương đương với khoảng 174ha rừng sẽ được trồng thay thế). Điều đáng mừng là nhiều doanh nghiệp có diện tích trồng rừng lớn từ 50ha đến trên 100ha đều đã thực hiện dứt điểm, đơn cử như Than Vàng Danh, Than Hà Tu, dự án Khu du lịch đô thị Hạ Long Star... Ngay cả một số doanh nghiệp có dự án thực hiện hàng chục năm trời không nộp tiền cũng đã lập tức thực hiện nghĩa vụ của mình như: Công ty CP Than Núi Béo, Công ty Than Hòn Gai, Công ty Liên doanh Việt Mỹ Hạ Long... Ngoài ra, còn nhiều doanh nghiệp khác đã có văn bản gửi Chi cục Kiểm lâm tỉnh đề xuất được hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện trồng rừng thay thế.

Cùng với việc rà soát công tác trồng rừng thay thế, năm 2016 cũng là năm quyết liệt của ngành kiểm lâm đối với công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng. Theo đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tiến hành làm việc với tất cả các công ty nước sạch và doanh nghiệp về việc chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tính đến ngày 10-11-2016 đã có gần 4 tỷ đồng kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng được các doanh nghiệp chuyển về (tăng 100% so với năm 2015). Từ nguồn kinh phí này, ngành lâm nghiệp đã giao cho các chủ rừng có thêm nguồn kinh phí để tăng diện tích rừng phòng hộ và công tác bảo vệ rừng. Ông Phạm Văn Phát, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh khẳng định: Từ việc thờ ơ, mặc nhiên coi công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước thì đến nay, doanh nghiệp đã đồng lòng, chung vai cùng với chúng tôi giữ rừng. Qua đó, đã góp phần đưa chất lượng rừng được nâng lên rõ nét.

VẪN CÒN NHIỀU KHÓ KHĂN

Mặc dù trong 10 tháng qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận như: Trồng mới được 770ha rừng phòng hộ, trồng bổ sung trên 5.000ha rừng phòng hộ và trồng mới 30.000ha rừng sản xuất, không để xảy ra các điểm nóng về tàn phá rừng, hoàn thành việc rà soát, điều chỉnh cục bộ quy hoạch 3 loại rừng... thế nhưng, công tác bảo vệ rừng hiện lại đang gặp rất nhiều khó khăn, nhất là công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại các rừng phòng hộ. Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 9 dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ được tỉnh phê duyệt đầu tư từ nguồn ngân sách. Đến nay, các dự án này còn 1.259ha rừng trồng đang trong giai đoạn chăm sóc năm thứ 2, thứ 3 và thứ 4. Phần diện tích này nếu không tiến hành chăm sóc sẽ bị thực bì lấn át, cây rừng sinh trưởng kém, nguy cơ cháy rừng trên diện rộng rất cao. Theo tính toán, 9 dự án trên cần 3,5 tỷ đồng để chăm sóc và làm băng cản lửa, tuy nhiên do chưa được cấp kinh phí nên ban quản lý các rừng phòng hộ đều “lực bất tòng tâm”.

Ông Hoàng Văn Hiểu, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập, cho biết: Có diện tích rừng phòng hộ lớn nhất tỉnh với gần 15.000ha, diện tích rừng này có vai trò rất lớn trong việc gìn giữ nguồn sinh thuỷ cho hồ Yên Lập, đảm bảo cung cấp nước sản xuất và sinh hoạt cho TX Quảng Yên, TP Uông Bí, TP Hạ Long và huyện Hoành Bồ. Khoảng 5 năm nay, do không có kinh phí chăm sóc nên diện tích thực bì đang lấn át các cây trong rừng, khiến cho 15% diện tích đang nằm trong nguy cơ cao về cháy rừng.

Đối với Hạt kiểm lâm TP Móng Cái, việc thiếu kinh phí chăm sóc rừng cũng khiến cho cán bộ của Hạt luôn thấp thỏm mỗi khi mùa hanh khô đến. Ông Lê Văn Thạnh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP Móng Cái phân trần: Từ rất nhiều năm nay, thành phố chỉ cấp khoảng 200 triệu đồng chi cho sự nghiệp lâm nghiệp. Hàng năm, chi phí cho Tết trồng cây đã mất khoảng 150 triệu đồng, phần còn lại chi cho các hoạt động khác thành ra kinh phí dành cho phòng cháy, chữa cháy rừng gần như không còn. Chưa kể, một số quy định hiện hành còn thiếu hướng dẫn thực hiện như Nghị định 09/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Theo quy định, diện tích giao cho dân và các chủ rừng thì họ phải có trách nhiệm phát dọn thực bì, khi xảy ra cháy thì phải là người đầu tiên tổ chức chữa cháy rừng. Đồng thời, phải chi trả thù lao dập lửa rừng cho các đơn vị thực hiện chữa cháy. Mặc dù Nghị định này ban hành từ năm 2006, nhưng đến nay chưa có chế tài thực thi, do đó khi chủ rừng không thực hiện đúng các quy định, chúng tôi cũng không thể xử lý. Từ đó khiến cho ý thức của các hộ dân và chủ rừng vẫn rất thấp. Đây là khó khăn lớn nhất đối với chúng tôi trong công tác bảo vệ rừng hiện nay.

Thực tế cho thấy, nhiều năm nay, lợi ích kinh tế từ phát triển lâm nghiệp đã được khẳng định là nhân tố tích cực, làm nâng cao đời sống của nhiều hộ dân. Từ đó tác động tổng thể đến phát triển KT-XH của tỉnh. Để cho những cánh rừng mãi xanh, bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của ngành kiểm lâm, thiết nghĩ tỉnh cần có sự quan tâm, đầu tư hơn nữa đến công tác quản lý và bảo vệ rừng.

Hoàng Nga

.
.
.
.
.
.
.
.