Thuốc bảo vệ thực vật: Con dao hai lưỡi

Thứ Ba, 05/06/2012, 04:57 [GMT+7]
.
.

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là một sản phẩm hỗ trợ bà con nông dân một cách đắc lực trong việc phòng trừ sâu bệnh trong sản xuất nông nghiệp. Thế nhưng, đi cùng với đó, đã có không ít hộ nông dân do chạy theo lợi nhuận, sử dụng không hợp lý thuốc BVTV, gây hậu quả nghiêm trọng tới môi trường và sức khoẻ con người.

Là một trong những sản phẩm được quy định đăng ký rất chặt chẽ bởi tính chất độc hại và khả năng tác động đến môi trường, sức khoẻ cộng đồng, thuốc BVTV nếu được sử dụng đúng theo quy trình kỹ thuật sẽ đem lại lợi ích to lớn trong sản xuất nông nghiệp. Cụ thể như đẩy lùi tác hại của sâu, bệnh, cỏ dại và các sinh vật gây hại khác đối với cây trồng và nông sản một cách nhanh chóng; đảm bảo cho các giống tốt phát huy được các đặc tính ưu việt, giúp cây trồng tận dụng được điều kiện thuận lợi của các biện pháp thâm canh; cho tăng năng suất và chất lượng nông sản, đem lại lợi nhuận cao cho người dân... Tuy nhiên, nếu trong việc phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại mà chỉ sử dụng thuốc BVTV, không phối hợp với các biện pháp phòng trừ khác trong hệ thống biện pháp phòng trừ tổng hợp và dùng thuốc bảo vệ thực vật một cách cẩu thả, không khoa học thì sẽ lợi bất cập hại. Thậm chí có thể gây độc cho bản thân người phun thuốc; môi trường xung quanh vùng phun thuốc và cho chính những người sử dụng nông sản làm thực phẩm. Chỉ tính riêng trong năm 2009, cả nước đã có 4.515 người bị nhiễm độc thuốc BVTV. Trong đó có 138 trường hợp tử vong.

Không chỉ vậy, lượng rác thải từ bao bì bảo quản thuốc BVTV nếu không được xử lý cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường xung quanh. Theo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh, khối lượng bao bì bảo quản thuốc bảo vệ thực vật tương ứng 10% khối lượng thuốc. Như vậy, trung bình mỗi năm nông dân tỉnh Quảng Ninh sử dụng hết hơn 10 tấn thuốc bảo vệ thực vật thì tương ứng sẽ có hơn 1 tấn rác thải từ bao bì bảo quản được thải ra môi trường. Điều đáng nói là đến nay toàn tỉnh vẫn chưa có khu xử lý chất thải độc hại này, hầu hết các hộ dân tự xử lý rác thải từ thuốc BVTV qua các bể chứa nhỏ tại gia đình. Thậm chí có hộ còn thu gom cả rác thải từ thuốc BVTV với rác sinh hoạt. Ông Lê Hồng Thái, Trạm trưởng Trạm BVTV TX Quảng Yên cho biết: “Thay đổi thói quen vứt rác thải, bao bì thuốc BVTV bừa bãi của bà con là điều không hề dễ dàng. Thời gian qua, chúng tôi đã tích cực tuyên truyền vận động và yêu cầu bà con lấy phần vỏ bao bì, chai lọ, thu gom đưa vào bể chứa, rồi dùng vôi bột xử lý. Do vậy cũng hạn chế đáng kể tình trạng vứt bao bì thuốc bảo vệ thực vật ở ngoài đồng ruộng”.

Thực tế cho thấy, tại Quảng Ninh, công tác kiểm soát việc sử dụng thuốc BVTV là điều không hề dễ dàng. Các ngành chức năng mới chỉ dừng lại ở mức độ thanh, kiểm tra tình hình hoạt động tại các cửa hàng bán thuốc BVTV và các cửa hàng bán thực phẩm ở một số chợ lớn trên địa bàn. Đồng chí Bùi Xuân Thảo, Chi cục trưởng Chi cục BVTV cho biết: “Do hạn chế về nguồn nhân lực nên việc quản lý, kiểm tra tới từng hộ nông dân là điều rất khó. Có rất nhiều trường hợp không dùng các loại thuốc BVTV cấm nhưng sử dụng không đúng cách cũng có thể gây ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân. Đơn cử như việc lấy thuốc BVTV ngắn ngày sử dụng cho thực vật dài ngày hay quy định về thời gian thực phẩm sau phun thuốc được bán ra thị trường không đảm bảo...”. Đồng thời, do còn thiếu các trang thiết bị hiện đại, nên nếu muốn kiểm nghiệm dư lượng thuốc BVTV trên mẫu thực phẩm, Chi cục phải gửi mẫu lên Cục BVTV để kiểm tra (thiết bị kiểm tra những mẫu sử dụng thuốc BVTV lên tới hàng trăm tỷ đồng). Thời gian cho mỗi lần kiểm nghiệm cũng mất từ 7 đến 10 ngày. Khi có kết quả thì tất cả những thực phẩm đó đều đã được người dân bán ra thị trường.

Có thể thấy, nếu sử dụng đúng cách, biết phối hợp với các biện pháp phòng trừ khác thì thuốc BVTV sẽ là một “vũ khí” lợi hại không thể thiếu trong một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, đem lại lợi ích cho nông dân. Ngược lại, nếu ỷ lại vào thuốc bảo vệ thực vật, dùng không đúng kỹ thuật sẽ gây ra những hậu quả tai hại trước mắt và lâu dài. Tuy nhiên, làm được điều này không chỉ là trách nhiệm của mỗi hộ dân mà còn cần sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt, sự quan tâm đầu tư của các cấp, các ngành để thuốc BVTV phát huy những hiệu quả tích cực.

Lan Anh

.
.
.
.
.
.
.
.