Thực hiện chiến lược biển

Vì sao “tư duy đại dương” vẫn chưa thực sự mở?

Thứ Bảy, 26/05/2012, 04:55 [GMT+7]
.
.

Quảng Ninh với đặc thù của tỉnh ven biển nên việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 09/NQ-TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là một Nghị quyết quan trọng, khẳng định hướng đi chiến lược của tỉnh. Đây là bước đột phá về tư duy, đó là dần thoát khỏi “tư duy đất liền”, mở ra “tư duy đại dương” trong thời đại kinh tế mở và hội nhập toàn cầu. Tuy nhiên, sau hơn 3 năm thực hiện (2009-2011) bên cạnh những kết quả đạt được thấy rằng “tư duy đại dương” vẫn chưa thực sự mở.

Bốc xếp hàng tại cảng Quảng Ninh.
Bốc xếp hàng tại cảng Quảng Ninh.

Hạn chế còn nhiều

Nhìn lại kết quả sau hơn 3 năm thực hiện Chiến lược biển đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh  có 3/4 chỉ tiêu đã hoàn thành vượt kế hoạch đề ra gồm: Mục tiêu GDP bình quân đầu người tăng gấp 2,14 lần so với 2005; tổng sản lượng hàng hoá thông qua cảng đạt 42,75 triệu tấn năm 2010 (vượt 2,75 triệu tấn); tổng sản lượng thuỷ sản đạt 83.200 tấn (vượt 3.200 tấn); chỉ tiêu thu hút khách du lịch không đạt kế hoạch. Tuy nhiên, các mục tiêu như công tác quy hoạch, phát triển các khu, cụm công nghiệp và các ngành công nghiệp đóng tàu, phát triển kinh tế hàng hải, dịch vụ sau cảng đều cơ bản chưa đạt kế hoạch đề ra.

Mặc dù đến nay tỉnh đã hoàn thành việc lập một số loại quy hoạch như: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển đảo và ven biển của tỉnh đến năm 2020; tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển đảo Cô Tô đến năm 2020; quy hoạch chung xây dựng các thành phố, thị xã và huyện có biển; đề án phát triển thành phố cửa khẩu quốc tế Móng Cái; quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế Vân Đồn; quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030... Hiện đang chỉ đạo các ngành, địa phương thực hiện việc rà soát điều chỉnh, bổ sung một số quy hoạch phù hợp với yêu cầu. Thế nhưng thực tế các quy hoạch vẫn chưa đầy đủ, sự phối hợp lồng ghép các quy hoạch trong quá trình thực hiện chưa được đồng bộ, chất lượng các quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển.

Là địa bàn có lợi thế trong phát triển các ngành kinh tế biển nhưng trên thực tế triển khai thực hiện những năm qua cho thấy các ngành kinh tế biển vẫn đơn thuần dựa vào chính năng lực nội tại của các nhà đầu tư và năng lực sản xuất, khai thác của chính những hộ dân, ngư dân vùng biển đảo và ven biển. Các chiến lược, cơ chế, chính sách hiện có chưa đủ mạnh để khuyến khích, tạo động lực cho sự phát triển nhất là với vùng đặc thù. Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, trong khi việc phát triển các ngành kinh tế biển vẫn phải dựa vào năng lực nội tại của các nhà đầu tư thì trình độ chuyên môn, kỹ thuật, khoa học công nghệ, phương thức sản xuất áp dụng cho việc phát triển của các ngành kinh tế biển và ven biển chưa đáp ứng được yêu cầu nhất là đối với ngành kinh tế hàng hải và ngành khai thác, chế biến, khai khoáng… Điều đó đã làm hạn chế khả năng sản xuất, khai thác và là gia tăng chi phí đầu vào, dẫn đến hiệu quả sản xuất đạt thấp. Quảng Ninh là tỉnh có tỷ lệ diện tích mặt bằng vùng biển và ven biển rất thấp, cùng với quá trình phát triển, hạ tầng các khu đô thị và các khu dân cư hầu hết đã cơ bản phủ kín nên những địa điểm có lợi thế cho việc phát triển kinh tế cảng biển, hậu cần sau cảng, phát triển ngành du lịch, dịch vụ còn lại không nhiều.

Trong xu thế phát triển, các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo, điện, xi măng... các ngành dịch vụ, nuôi trồng thuỷ hải sản và sự phát triển các khu dân cư, khu đô thị lấn biển đã và đang kéo theo những hệ luỵ đến môi trường. Với mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, đô thị và vùng bờ ngày càng cao, các biện pháp kiềm chế, giảm thiểu ô nhiễm môi trường không theo kịp đà phát triển, hiệu quả quản lý và bảo vệ môi trường chưa cao.

Thiếu cơ chế và nguồn lực

Dù trong quá trình thực hiện các địa phương đều nhận thấy sự đồng thuận và gắn vào tư duy phát triển mới cho các nhà chiến lược và hoạch định chính sách. Tuy nhiên đến nay, chưa có một cơ chế, chính sách, nguồn lực nào dành riêng cho phát triển vùng biển đảo đặc thù để tạo bước đột phá, tạo sức lan toả và lôi kéo sự phát triển đến các khu vực lân cận. Với tính đặc thù về vị trí địa lý, địa hình đồi núi phức tạp, diện tích rộng và trải dài từ Đông Triều tới Móng Cái; mật độ phân bố dân cư không đều, xuất đầu tư tính trên đơn vị diện tích vùng biển và ven biển rất lớn nên việc đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển tại chỗ và giao lưu kinh tế.

Cũng vì xuất phát điểm của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực ven biển và biển đảo trên địa bàn còn yếu kém nên không đủ sức lôi cuốn, kích thích và thu hút các thành phần kinh tế, các tổ chức, doanh nghiệp lớn, đủ mạnh trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển. Nhất là hạ tầng giao thông đường bộ, tuyến đường huyết mạch kết nối với hệ thống cầu cảng, các khu công nghiệp và các khu kinh tế ven biển chưa được triển khai xây dựng theo đúng kế hoạch như: Tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hạ Long - Móng Cái, quốc lộ 4B từ Đình Lập (Lạng Sơn) đến cảng Mũi Chùa (Tiên Yên) - khu kinh tế Vân Đồn, quốc lộ 18C đến cửa khẩu Hoành Mô, tỉnh lộ 340 đến cửa khẩu Bắc Phong Sinh... Hệ thống cầu cảng như: Cái Lân, Cẩm Phả, Hòn Nét, Mũi Chùa, Hải Hà, Vạn Gia, Lạch Huyện... Trong giai đoạn từ năm 2008-2011 tổng nguồn lực đầu tư cho các lĩnh vực liên quan đến phát triển kinh tế biển trên toàn tỉnh gần 10.000 tỷ đồng. Nguồn lực này chưa đáp ứng được nhu cầu cần đầu tư phát triển cho địa bàn có diện tích vùng biển lớn, trải dài, xuất phát điểm về cơ sở hạ tầng khu vực ven biển, đảo còn yếu kém.

Nhận rõ những hạn chế, nguyên nhân do đâu để có những giải pháp thực sự kích thích được “tư duy đại dương”, một trong những giải pháp mà tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo trong thời gian tới đó là tổ chức lại không gian kinh tế biển theo “Phân vùng và quy hoạch sử dụng không gian theo chức năng” không chỉ tài nguyên lớp bề mặt biển, mà còn theo tầng nước, bề mặt đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Trên cơ sở các quy hoạch đã được xác lập, đẩy mạnh công tác xúc tiến, kêu gọi và thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước; đồng thời tận dụng tối đa các nguồn vốn ODA, vay từ các tổ chức tín dụng để tập trung đầu tư tạo động lực và khuyến khích các nhà đầu tư, tập trung đầu tư trên địa bàn. Tiếp tục đề xuất Trung ương có các cơ chế chính sách đặc thù, hỗ trợ nguồn lực cho quá trình tiến ra biển của tỉnh.

Ngọc Lan

.
.
.
.
.
.
.
.