Vốn tín dụng cho chương trình xây dựng nông thôn mới: Cần xóa nhiều rào cản

Thứ Ba, 17/04/2012, 05:05 [GMT+7]
.
.

Trong những năm qua, thực hiện chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP và các chương trình tín dụng chính sách xã hội đã giúp cho hàng ngàn hộ dân trong tỉnh có điều kiện phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo và làm giàu. Tuy nhiên, để nguồn vốn này thật sự trở thành đòn bẩy, thúc đẩy quá trình sản xuất tại khu vực nông nghiệp, nông thôn vẫn còn những tồn tại, bất cập cần được tháo gỡ.

Khó từ nhiều phía

Nguồn vốn hỗ trợ hộ chính sách tối đa 30 triệu đồng không đủ để hộ dân phát triển các mô hình lớn. Trong ảnh: Cán bộ Ngân hàng CSXH huyện Ba Chẽ giải quyết thủ tục vay vốn cho nông dân.
Nguồn vốn hỗ trợ hộ chính sách tối đa 30 triệu đồng không đủ để hộ dân phát triển các mô hình lớn. Trong ảnh: Cán bộ Ngân hàng CSXH huyện Ba Chẽ giải quyết thủ tục vay vốn cho nông dân.

Quảng Ninh không phải là một tỉnh trọng điểm về nông nghiệp, tuy nhiên, khu vực nông nghiệp, nông thôn của tỉnh vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn về diện tích và dân số. Việc phát triển khu vực này có ý nghĩa quan trọng để thực hiện những mục tiêu về kinh tế - xã hội của tỉnh. Do vậy, trong những năm qua, vốn tín dụng ở khu vực nông nghiệp, nông thôn không ngừng được gia tăng và nhanh chóng được các hộ dân tiếp cận. Mặc dù vậy, việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng của tổ chức, cá nhân phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn vẫn được đánh giá là còn nhiều hạn chế, hiệu quả thực hiện chưa đạt được như mong muốn do rất nhiều nguyên nhân.

Cụ thể, với nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại (NHTM), đối tượng vay vốn nông nghiệp, nông thôn thông thường không đủ tài sản để đảm bảo cho các khoản vay của mình. Việc thực hiện tín chấp theo Nghị định 41 lại không được các NHTM thực hiện để đảm bảo tính an toàn trong tín dụng. Do đó, việc quyết định cho vay lĩnh vực này ở các NHTM khá hạn chế. Ngay cả khi được NHTM giải quyết vay vốn thì khả năng trả lãi ngân hàng của khu vực nông nghiệp, nông thôn cũng rất hạn chế. Vì mức lãi suất áp dụng cho vay ở mức rất cao, tương đương với các lĩnh vực vay vốn khác (từ 15-17%/ năm). Trong khi sản xuất nông nghiệp luôn mang tính rủi ro không báo trước.

Vốn vay tại NHTM khó khăn đã đành, nhưng ngay cả đối với nguồn vốn theo các chương trình chính sách cũng không phải không có những rào cản ngăn vốn đến với người dân khu vực nông nghiệp, nông thôn. Không phải đối tượng nông nghiệp, nông thôn nào cũng đủ điều kiện để được tiếp cận nguồn vốn vay. Các chương trình tín dụng chính sách hiện nay chủ yếu ưu tiên cho một số đối tượng chính sách theo diện hẹp. Vì thế, không phải đối tượng chính sách nào cũng có thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi. Cụ thể như vốn chính sách chỉ dành cho hộ nghèo, các đối tượng hộ cận nghèo không nằm trong diện để xét được vay vốn. Trong khi ai cũng biết nhiều khi khoảng cách giữa hộ nghèo và hộ cận nghèo hiện nay không chênh lệch nhau là mấy. Cũng do điều này mà đã có nhiều câu chuyện dở khóc, dở cười khi “hộ cận nghèo tha thiết xin... được trở thành hộ nghèo”.

Vốn có nhưng dân chưa “bắt” mô hình

Có được nguồn vốn tín dụng hỗ trợ sản xuất đã khó khăn, thế nhưng, để nguồn vốn tín dụng thực sự phát huy hiệu quả ở khu vực nông nghiệp, nông thôn cũng không phải là một việc làm dễ dàng.

Thời gian qua, tỉnh đã nghiên cứu xây dựng và triển khai nhiều cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp thông qua các mô hình sản xuất (hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật, con giống, thức ăn...). Tuy nhiên, theo đánh giá của Ban Xây dựng Nông thôn mới của tỉnh thì hiệu quả đạt được từ các mô hình sản xuất vẫn chưa như mong đợi. Nguyên nhân do sự ỷ lại, tính trông chờ của người dân trong sản xuất nông nghiệp vẫn rất lớn. Ở một số nơi, các mô hình sản xuất do Nhà nước và tỉnh hỗ trợ từ ngân sách thực hiện cầm chừng thiếu tính hiệu quả. Người dân chỉ thực hiện khi có vốn chứ chưa có ý thức phát triển hay nhân rộng mô hình. Khi vốn hết thì mô hình cũng dừng lại. Bên cạnh đó, cũng có nhiều mô hình khi triển khai đã không có nghiên cứu kỹ các yếu tố như: Thói quen canh tác, tập tục sinh hoạt, thổ nhưỡng, thời tiết... khu vực triển khai mô hình; việc tuyên truyền phổ biến mô hình có nơi làm hời hợt chưa đến nơi đến chốn. Do vậy, nông dân không mặn mà với mô hình.

Thêm một khó khăn nữa, đối với các hộ đã được giải quyết cho vay vốn chính sách, mức vay hiện nay cao nhất chỉ 30 triệu đồng/hộ nên không thể đủ để phát triển các mô hình sản xuất tạo sản phẩm hàng hoá mà chỉ có tác dụng xoá đói giảm nghèo. Do đó, rất nhiều mô hình hay ở khu vực nông nghiệp, nông thôn có thể bị “lãng quên” do người dân không đủ điều kiện phát triển mô hình.

Câu chuyện gia tăng nguồn vốn và nâng cao chất lượng vốn tín dụng trong nông nghiệp, nông thôn đến nay không còn mới. Cũng không thể phủ nhận những chính sách ưu đãi dành cho khu vực này. Tuy nhiên, để giải quyết thấu đáo vấn đề, rõ ràng phải có thêm nhiều giải pháp tạo sự thay đổi hiệu quả hơn nữa. Được biết, hiện nay, các ban, ngành liên quan của tỉnh như Ngân hàng Nhà nước, Ban Nông thôn mới, Sở Công thương, Sở NN&PTNN... đang trong quá trình lấy ý kiến và hoàn thiện dự thảo Chính sách tín dụng hỗ trợ sản xuất cho khu vực nông nghiệp, nông thôn báo cáo UBND tỉnh xem xét, giải quyết.

Hồng Nhung

Huyện Cô Tô vừa đưa vào sử dụng, vận hành trạm cấp nước tại xã Thanh Lân cung cấp nước sạch, hợp vệ sinh cho 150 hộ tại thôn 2 và thôn 1. Nâng số hộ dân khu vực nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh lên 574 hộ (chiếm 70% tổng số hộ nông thôn). Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Mạnh Quang đang thực hiện thu gom rác thải trên địa bàn theo đề án được duyệt, trong quý I đã  xử lý được trên 215 tấn rác thải.

Tính đến thời điểm này, huyện Ba Chẽ đã phân bổ 4.770 triệu đồng (15% vốn nông thôn mới) cho hỗ trợ phát triển sản xuất. Tiếp nhận và triển khai nguồn vốn 130 triệu đồng của LĐLĐ tỉnh, hỗ trợ cho 11 hộ tham gia mô hình trồng cây thanh long và 10 hộ di dời chuồng trại chăn nuôi ra khỏi khu dân cư tại xã Nam Sơn.

Nhiều xã tại huyện Hải Hà đang triển khai việc vận động nhân dân hiến đất, làm đường. Cụ thể, nhân dân xã Quảng Long đã góp trên 40.000m2 đất, 120 triệu đồng để nâng cấp 37km đường giao thông liên thôn. Xã Quảng Chính, nhân dân hiến gần 3.000m2 đất nông nghiệp, trồng cây lâu năm, đóng góp 3.500 công lao động và 45 triệu đồng. Xã Phú Hải huy động doanh nghiệp được 300m3 cấp phối để mở rộng và cứng hoá đường giao thông. Xã Quảng Điền, nhân dân đóng góp 8 triệu đồng, 800 công lao động để tu bổ, sửa chữa 10km, 7km đường xóm.

Trong quý I, huyện Đầm Hà đã triển khai thi công 2 nhà máy cấp nước sinh hoạt cho các hộ dân nông thôn tại xã Quảng Lợi, Dực Yên. Đến nay, nhà máy cấp nước sinh hoạt xã Quảng Lợi đã hoàn thành 70% khối lượng công việc, nhà máy nước Dực Yên đã hoàn thành 50% khối lượng công việc. Huyện cũng vận động nhân dân thi công 3 tuyến đường giao thông nội thôn với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Giai đoạn I có tổng chiều dài 1.336m và tổng mức kinh phí đầu tư 1.768,376 triệu đồng. Trong đó, ngân sách huyện hỗ trợ 543,436 triệu đồng; nhân dân 3 thôn đã tình nguyện hiến 2.003,85m2 đất, tham gia ngày công, tự giải phóng mặt bằng với tổng kinh phí 1.225,048 triệu đồng.

Hoàng Nga

 

.
.
.
.
.
.
.
.