Quản lý và sử dụng đất lâm nghiêp: Còn nhiều bất cập

Thứ Hai, 02/04/2012, 05:20 [GMT+7]
.
.

Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường, tổng diện tích đất rừng toàn tỉnh có 3.88.393,64ha, chiếm 63,6% tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất rừng sản xuất là 241.072,15ha, chiếm 62% diện tích đất rừng; đất rừng phòng hộ 122.064ha; đất rừng đặc dụng 25.258ha. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 8 công ty lâm nghiệp, 10 ban quản lý rừng và 24 doanh nghiệp, tổ chức đang quản lý sử dụng đất lâm nghiệp với tổng diện tích 185.011,33ha. Tất cả các công ty lâm nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức đều đã có quyết định giao đất, cho thuê đất của UBND tỉnh, riêng các ban quản lý rừng thì hầu hết chưa có quyết định giao đất (mới chỉ có 1 ban quản lý rừng phòng hộ đã được cấp giấy). Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) lâm nghiệp cho các tổ chức còn chậm, mới đạt 47,4% diện tích cần cấp. Trong đó, tổ chức, doanh nghiệp đã được cấp giấy là 22/24 với diện tích 22.042,57ha. Đối với đất lâm nghiệp giao cho các hộ dân, hiện nay có 40.144 hộ được giao quản lý, sử dụng đất rừng với diện tích 140.544,47ha. Việc cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp cho các hộ dân cũng mới chỉ đạt 55,23%.

Điều đáng bàn trong quá trình giao đất trồng rừng là có sự chồng lấn giữa các doanh nghiệp, tổ chức, ban quản lý rừng với người dân dẫn tới một số vụ tranh chấp đất đai. Nguyên nhân được xác định là do một số đơn vị chưa có hồ sơ giao đất, việc xác định mốc giới ngoài thực địa đối với các đơn vị đã được giao đất hầu như chưa được thực hiện. Cùng với đó, việc theo dõi biến động đất lâm nghiệp trong thời gian qua còn nhiều hạn chế. Đất lâm nghiệp đã được giao cho các doanh nghiệp, các đơn vị quân đội trồng rừng nhưng khi trả lại cho địa phương hoặc bị thu hồi bởi các dự án khác đã không làm thủ tục chỉnh lý lại quyết định giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định, dẫn đến việc quản lý đất trên giấy tờ và thực tế có sự khác biệt, khó theo dõi quản lý. Cùng với đó, việc giao đất trước kia còn sơ sài, bản đồ giao đất không theo hệ toạ độ chuẩn và không có mốc cắm ngoài thực địa. Đất sử dụng qua thời gian dài đã có nhiều biến động dẫn đến việc quản lý đất đai trên thực tế có nhiều khó khăn. Nhiều dự án được giao đất trồng rừng nhưng tiến độ thực hiện dự án quá chậm. Một số tổ chức được giao quản lý diện tích rừng tự nhiên nhưng còn để xảy ra tình trạng khai thác lâm sản trái phép. Đặc biệt, các công ty lâm nghiệp khi giao khoán đất cho các hộ dân trồng rừng không quản lý chặt chẽ dẫn đến việc các hộ dân sử dụng đất sai mục đích theo hợp đồng, không trồng rừng mà tự ý san gạt sử dụng vào mục đích khác hoặc để cho các đối tượng vào thăm dò, khai thác than trái phép…

Theo đánh giá của ngành chức năng, việc cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp cho hộ gia đình cá nhân còn gặp nhiều khó khăn. Đầu tiên phải kể đến công tác giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân trong những năm trước đây do nhiều cơ quan thực hiện, thiếu sự quản lý thống nhất, hồ sơ lưu trữ không đầy đủ. Trước đây khi giao cho các hộ gia đình, cá nhân cơ quan kiểm lâm sử dụng bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 làm cơ sở để giao đất do đó độ chính xác không cao, hình dạng, ranh giới thửa đất giữa sơ đồ giao đất và thực địa khác nhau, ranh giới đất giữa các chủ sử dụng đất trên thực địa chưa được xác định rõ ràng do đó đã phát sinh nhiều tranh chấp. Các công ty lâm nghiệp được giao đất với diện tích lớn, nhiều điểm ranh giới đất được giao khó xác định trên thực địa, do đó chính công ty cũng không quản lý được ranh giới đất công ty được giao dẫn đến tình trạng người dân sống ở khu vực giáp ranh đã sử dụng chồng lấn với đất của công ty lâm nghiệp. Nhiều hộ dân chiếm đất để trồng rừng, do đó việc cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp giáp ranh với đất của công ty lâm nghiệp gặp khó khăn do chưa giải quyết được tranh chấp về đất đai.

Một thực trạng hiện nay là phần lớn các hộ gia đình, cá nhân được giao rừng tự nhiên hoặc rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trước đây, có hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (từ năm 1990 đến năm 1993 và rải rác đến năm 1997) để khoanh nuôi bảo vệ đã tự ý chặt diện tích rừng được giao để trồng lại rừng. Việc thay thế này diễn ra trong thời gian dài, diễn biến phức tạp nên khó xác định được thời điểm rừng bị thay thế nên khó thực hiện cấp và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Một khó khăn lớn hiện nay đối với ngành Lâm nghiệp và các đơn vị trồng rừng là việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, cá nhân đối với diện tích đất lâm nghiệp trước đây do UBND các xã quản lý và đất đã giao cho các tổ chức, lâm trường nay trả về cho địa phương vì chưa có cơ sở để định giá rừng.

Để công tác quản ly, sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn thực sự hiệu quả, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các địa phương cần tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, hướng dẫn các đơn vị trong việc lập hồ sơ giao đất, thuê đất và cấp giấy CNQSDĐ; xem xét thu hồi những diện tích đất lâm nghiệp sử dụng kém hiệu quả của một số công ty lâm nghiệp, các ban quản lý rừng và các doanh nghiệp, những diện tích giáp ranh với khu vực dân cư để lập phương án giao đất, giao rừng cho các hộ dân địa phương có đất sản xuất.

Trang Thu

.
.
.
.
.
.
.
.