.

Công tác thống kê, kiểm kê đất đai: Kịp thời, chất lượng

Cập nhật lúc 08:34, Thứ Hai, 06/02/2012 (GMT+7)

Công tác thống kê, kiểm kê đất đai là một trong những nội dung quan trọng làm cơ sở phục vụ quản lý nhà nước về đất đai. Qua đó đã dự báo định hướng và đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh tế, cơ cấu tài nguyên đất sử dụng hợp lý và ngày càng phát huy hiệu quả.

Để triển khai Chỉ thị số 618 của Thủ tướng Chính phủ và kế hoạch hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường về kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, tỉnh đã chỉ đạo các địa phương xây dựng kế hoạch triển khai công tác kiểm kê đất đai trên địa bàn, đồng thời  thành lập Ban chỉ đạo và tổ công tác kiểm kê đất đai; tập huấn nghiệp vụ kiểm kê đất đai cho chủ tịch, cán bộ địa chính các xã, phường, thị trấn; tuyên truyền công tác kiểm kê đất đai đến các tổ chức và toàn thể nhân dân… Qua đó, đã giúp các xã, phường, thị trấn thực hiện công tác kiểm kê đất đai đảm bảo theo yêu cầu. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện kiểm kê đất đai, các cấp đã thường xuyên kiểm tra, đôn đốc cơ sở đẩy nhanh tiến độ kiểm kê, uốn nắn kịp thời các sai sót chuyên môn, nghiệp vụ. Trong quá trình thực hiện, những vướng mắc về chuyên môn nghiệp vụ của cơ sở được giải quyết kịp thời đã góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm kê.

Thống kê, kiểm kê đất đai nhằm đánh giá thực trạng sử dụng đất và quá trình biến động đất đai, qua đó nắm tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt cũng như việc thực hiện đo đạc, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất, làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các giai đoạn kế tiếp. Chính vì vậy, các cấp, các ngành đã chủ động thực hiện chương trình kiểm kê đất đai theo phương pháp trực tiếp và toàn diện, lấy cấp xã là đơn vị cơ bản để tiến hành kiểm kê. Những số liệu về diện tích các loại đất theo đối tượng sử dụng được tổng hợp trên bản đồ địa chính chính quy, hồ sơ địa chính đã lập và các loại tài liệu liên quan khác đã được chỉnh lý phù hợp với hiện trạng sử dụng tại thời điểm kiểm kê. Hiện nay, tỉnh  sử dụng bản đồ để kiểm kê theo nguyên tắc: những địa phương có bản đồ địa chính chính quy thì dùng tài liệu này để kiểm kê, còn các địa phương khác không có bản đồ địa chính chính quy thì dùng bản đồ đo đạc theo Chỉ thị 299/TTg (bản đồ giải thửa 299) đã chỉnh lý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo kết quả thống kê đất đai năm 2011 tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 610.235ha bao gồm: nhóm đất nông nghiệp; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng và đất có mặt nước ven biển (nhóm đất này tập trung ở các địa phương ven biển như: Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Vân Đồn, Cô Tô, Cẩm Phả và Hạ Long). Đặc biệt trong năm 2011 diện tích đất nông nghiệp là 460.119ha, tăng 812ha. Tuy nhiên, cụ thể một số loại đất nông nghiệp diện tích lại giảm như: đất trồng lúa nước năm 2010 là 28.725ha, năm 2011 là 28.530ha, giảm 194,69ha; đất trồng cây hàng năm khác giảm 116,41ha so với năm 2010. Sự biến động này do chuyển đổi cơ cấu cây trồng và chuyển sang mục đích sử dụng khác theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của các địa phương, của tỉnh và trung ương. Đối với đất phi nông nghiệp năm 2011 diện tích là 83.794ha, tăng 961ha. Trong đó, một số loại đất có sự biến động tăng lớn như: đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tăng 245,18ha; đất có mục đích công cộng tăng 629,47ha; đất ở đô thị tăng 46,3ha. Phần lớn diện tích tăng do chuyển đổi đơn vị hành chính cấp xã thành cấp phường và do quy hoạch phát triển khu đô thị mới; quy hoạch phát triển các công trình công cộng theo quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt. Do đó công tác kiểm kê đất đai được hoàn thành với chất lượng tốt giúp các cấp đánh giá lại việc thực hiện các nội dung về quản lý sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quản lý địa giới hành chính; lập, thực hiện quy hoạch sử dụng đất. Tính đến thời điểm này tổng số giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân là 379.840 giấy; giấy chứng nhận đã cấp cho tổ chức là 3.103 giấy. Trong đó, các loại đất cấp giấy đạt tỷ lệ cao là: đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp đạt 90,6%; đất nuôi trồng thuỷ sản đạt 82,2% diện tích theo hiện trạng. Hiện nay các địa phương vẫn đang tích cực tháo gỡ những vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân.

Qua kết quả thống kê, kiểm kê đất đai cho thấy các tổ chức sử dụng đất phi nông nghiệp cơ bản sử dụng đúng mục đích được giao, có hiệu quả, tuân thủ các quy định của pháp luật về đất đai. Tuy nhiên, trong công tác quản lý đất đai vẫn có những tồn tại như tình trạng vi phạm lấn chiếm đất đai, nhiều dự án được giao, cho thuê đất chưa phát huy hiệu quả sử dụng... Yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý đất đai thời gian tới ngày càng cao hơn để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh. Vì vậy, rất cần sự vào cuộc của các cấp, các địa phương tăng cường hơn nữa công tác quản lý để nâng cao hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng đất.

Hiểu Trân

,
.
.
.
.
.